|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 133/2025/HSST Ngày 19/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh;
- Bà Thiều Thị Phi Loan;
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lâm Thị Thảo;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia
- phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Phạm Hoàng T (Tên gọi khác: không), sinh năm 1992, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H, không rõ năm sinh và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1971; Bị cáo là con duy nhất, chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt khẩn cấp và tạm giữ ngày 30/11/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh số 2547/LTG của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B - Bị cáo có mặt.
❖ Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Anh Tuấn T1, sinh năm 1985 - vắng mặt;
- Anh Quách Quỳnh A, sinh năm 1990 - vắng mặt;
Địa chỉ: 1, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Địa chỉ: H, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phạm Hoàng T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 21 giờ ngày 25/11/2024, T đi một mình đến phố đi bộ N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh mua của người đàn ông (chưa rõ lai lịch) 01 gói ma tuý cần sa (dạng thảo mộc khô) với giá 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) mục đích để sử dụng.
Sau khi mua được cần sa, T đem về nhà tại địa chỉ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất vào trong lọ thủy tinh để trong tủ đồ dùng cá nhân trong phòng ngủ. Khoảng 21 giờ ngày 30/11/2024, T lấy một phần cần sa và đem theo dụng cụ xay cần sa (hộp kim loại hình tròn màu đen) đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến đường dân sinh phía trước căn nhà số H, khu phố B, phường T, thành phố B tỉnh Đồng Nai thì gặp Nguyễn Anh Tuấn T1 (sinh năm 1998, ngụ tại 1, khu phố A, phường H, thành phố B) và Quách Quỳnh A (sinh năm 1990, ngụ tại H, khu phố B, phường T, thành phố B tỉnh Đồng Nai) là bạn T, đang ngồi ở đây. Tại đây, T rủ T1 sử dụng cần sa, T1 đồng ý. T đổ toàn bộ số cần sa đem theo vào dụng cụ nêu trên rồi nghiền nhỏ. Sau đó, T lấy ra một ít cần sa cuộn vào điếu thuốc hiệu S của T mang theo. Khi chế biến xong, T dùng bật lửa của Thụy đốt và cùng T1 thay nhau sử dụng. Khoảng 15 phút sau, Quỳnh A từ nhà số H, khu phố B, phường T, thành phố B đi ra, thấy điếu thuốc được cuốn cần sa đang để ở trên bàn đá để trên vỉa hè nên cũng lấy hút (T không có ý kiến gì và để cho Quỳnh A hút). Sau khi Quỳnh A hút được 01 hơi xong thì Quỳnh A đi vào trong nhà để làm việc nhà, còn T và T1 tiếp tục sử dụng cần sa.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi T và T1 đang sử dụng ma túy cần sa thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tiếp tục kiểm tra nơi ở của T tại địa chỉ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát hiện và thu giữ 01 gói ma tuý cần sa do T cất giấu. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, Nguyễn Phạm Hoàng T đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
❖ Vật chứng vụ án:
- - 01 hộp kim loại hình tròn màu đen (dụng cụ X), bên trong có chứa ma tuý cần sa (ký hiệu M1) được niêm phong có chữ ký của T, Nguyễn Anh Tuấn T1, Quách Quỳnh A và dấu mộc tròn đỏ của Công an phường T.
- - 01 túi Zip, bên trong có chứa ma tuý cần sa được niêm phong có chữ ký của T và dấu mộc tròn đỏ của Công an phường T (ký hiệu M2).
- - 01 bật lửa màu xanh lá cây;
- - 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu S.
- ❖ Tại bản Kết luận giám định số 2427/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- - Mẫu thảo mộc khô (ký hiệu M1) chứa trong 01 (một) hộp kim loại hình tròn màu đen được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, loại Cần sa. Mẫu dạng vết không xác định khối lượng.
- - Mẫu thảo mộc khô (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 17,3118 gam, loại Cần sa.
- ❖ Tại Bản Cáo trạng số 147/CT-VKSBH ngày 17 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố: Bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
- + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- + Tình tiết tăng nặng: không.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng T mức án từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
- ❖ Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
- ❖ Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Từ khoảng 21 giờ đến 21 giờ 30 phút ngày 30/11/2024, tại đường dân sinh phía trước căn nhà số H, khu phố B, phường T, thành phố B tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Phạm Hoàng T có hành vi tổ chức cho Nguyễn Anh Tuấn T1 và Quách Quỳnh A sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt giữ. Tiếp tục kiểm tra nơi ở của T tại địa chỉ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát hiện và thu giữ 01 gói ma tuý cần sa có khối lượng 17,3118 gam T đang cất giấu mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma tuý cho T Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với Nguyễn Anh Tuấn T1 và Quách Quỳnh A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép” 17,3118 gam ma tuý loại Cần sa của Nguyễn Phạm Hoàng T, do khối lượng ma tuý chưa đủ cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nêu trên, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 gói niêm phong số 2472/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ gồm: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 hộp kim loại hình tròn màu đen.
- + 01 bật lửa dùng để sử dụng ma tuý.
- + 01 vỏ bao thuốc lá hiệu S.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh:
- Về hình phạt:
- Về xử lý vật chứng:
- + 01 gói niêm phong số 2472/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ gồm: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định và 01 hộp kim loại hình tròn màu đen.
- + 01 bật lửa dùng để sử dụng ma tuý.
- + 01 vỏ bao thuốc lá hiệu S.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Hoàng T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 30/11/2024.
- Tịch thu tiêu hủy:
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Thái |
Bản án số 133/2025/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 133/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
