|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2025/HS-ST
Ngày: 17-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng
2. Ông Nguyễn Đình Vụ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/QĐST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Văn T - Sinh năm 1980; Nơi cư trú: SN G, phố T, phường A, TP., tỉnh Thanh Hóa; Số tẻ căn cước công dân: [...], nơi cấp Cục quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Văn T1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1954; có vợ: Trương Thị H1 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 30/10/2002 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T Quyết định đình chỉ vụ án số 04 và Đình chỉ bị can số 64 về hành vi “Hiếp dâm”. Tạm giam từ ngày 23/9/2024 đến ngày 06/12/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trịnh Quốc L, sinh năm: 1988; địa chỉ: SN GQ, phường A, TP, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 05/8/2024, anh Trịnh Quốc L cùng với anh Bùi Công T2, sinh năm 1976, trú tại Lô 38 LK 04, KĐT Đ phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đến quán bia nhà anh Mãi Văn T3, sinh năm 1978, ở phố C, phường A, thành phố T tỉnh Thanh Hóa để uống bia. Tại đây, do mâu thuẫn trong lúc mời bia nên giữa anh T3 và L có lời qua tiếng lại với nhau. Thấy L đứng dậy, tay phải cầm cốc bia bằng thủy tinh giơ lên trước mặt, nghĩ rằng L định đánh anh T3 nên Mai Văn T (là em trai T3) đang lau dọn bàn bên cạnh tiến lại dùng tay phải đẩy mạnh cốc thủy tinh L đang cầm trên tay, làm cốc va mạnh vào vùng trán và mặt anh L, cốc thủy tinh bị vỡ làm nhiều mảnh văng xuống xung quanh bàn uống bia và nền bê tông, đồng thời khiến L bị thương tích chảy máu ở vùng mặt và trán. Được anh T2 can ngăn nên sự việc dừng lại. Sau đó T gọi điện cho Mai Văn Đ, sinh năm 1995, trú tại A N, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đến đưa L đi sơ cứu nhưng khi Đ đến nơi thì L từ chối và lên xe máy để anh T2 chở đi. Đi được một đoạn thì anh T2 bị ngã xe, L được người thân của anh T3 gọi xe taxi đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình ngã xe anh T2 và anh L không bị thương tích gì.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập ngày 06/8/2024 đã xác định: 01 thương tích tại vùng trán, gây rách da chảy máu, miệng vết thương nham nhở, kích thước khoảng (4x1)cm; 01 vết thương tại vùng trán trái, gây rách da chảy máu, kích thước khoảng (2x0,5)cm; 02 vết thương tại vùng trán phải, gây rách da chảy máu, kích thước khoảng (0,5x0,5)cm; 01 vết thương tại vành tai phải, gây rách da chảy máu, kích thước khoảng (1,5x0,5)cm; 01 vết thương trầy xước ngoài da tại mu tay trái, kích thước khoảng (2,5x0,5)cm.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 674/KLTTCT-PYTH ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Trung tâm P đã kết luận: Anh Trịnh Quốc L tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là: 20% (hai mươi phần trăm).
Về phần dân sự: Bị hại Trịnh Quốc L đã nhận đủ số tiền 44.000.000₫ từ đại điện gia đình bị cáo Mai Văn T và không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng và kết luận của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T. Tại phiên tòa bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Cáo trạng số 23/CT-VKSTPTH ngày 02/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS đề nghị xử phạt Mai Văn T từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng. Về phần dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và không có ý kiến gì nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ TNHS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, sau khi xem xét nội dung biên bản kiểm tra hiện trường, kết quả giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng HĐXX có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/8/2024, tại quan bia nhà anh Mai Văn T4, địa chỉ phố C, phường A, TP. do mâu thuẫn giữa anh T4 và Trịnh Quốc L có lời qua tiếng lại. Khi thấy L cầm cốc bia lên, Mai Văn T (là em trai của T4) ở gần đó cho rằng L chuẩn bị đánh anh mình nên T đã gạt tay mạnh làm cốc thủy tinh đập vào mặt và trán của anh L làm cốc thủy tinh vỡ gây nên nhiều vết thương vùng mặt và trán của anh L. Anh L1 bị tổn thương cơ thể 20% sức khỏe.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội cần được chấp nhận.
[3] Tính chất vụ án: Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội do bị cáo thấy anh trai mình và bị hại có mâu thuẫn và cho rằng anh L1 giờ cốc bia bằng thủy tinh lên chuẩn bị đánh anh trai mình, bị cáo kích động không làm chủ được bản thân nên đã gây thương tích cho bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự xã hội, tính chất của vụ án là nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tính giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có mẹ đẻ tham gia thanh niên xung phong được hưởng chế độ như thương binh, các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.
Nhân thân ngày 30/10/2002 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T Quyết định đình chỉ vụ án số 04 và Đình chỉ bị can số 64 về hành vi “Hiếp dâm”, tuy nhiên xét thấy nhân thân đã xảy ra từ lâu, đã đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, hành vi phạm tội do bột phát khi thấy người thân bị đe dọa đến sức khỏe, không có chủ định từ trước, có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương xác nhận trước khi phạm tội bị cáo đã chấp hành và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp tại nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội. Do vậy, cần áp dụng Điều 65 của BLHS để cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian thử thách là đúng với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (sửa đổi bổ sung năm 2022).
[5].Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại 44.000.000đ, anh Trịnh Quốc L đã nhận đầy đủ và không có đề nghị gì thêm nên công nhận phần dân sự đã được giải quyết xong.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Mai Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Mai Văn T cho UBND phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự đã giải quyết xong.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Liên |
Bản án số 133/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)
- Số bản án: 133/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
