Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/02/2025

V/v tranh chấp ly hôn,

nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Sương và Ông Lê Cao Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận-Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ số: 842/2024/TLST.HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: tổ A, ấp B (trước là B), xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: tổ G, ấp P, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

    Bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Ông Trương Thanh N1, sinh năm 1978. Vắng mặt.

    Địa chỉ: tổ A, ấp B (trước là B), xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày và có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1 do gia đình mai mối, nên quen biết nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2001, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn trể hạn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 295, quyển số 02/2002, ngày 19/11/2002 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông Trương Thanh N1 thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và đã ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trương Thanh N1.

Về con chung: Có 03 (ba) con chung tên Trương Tam B, sinh ngày 19/8/2004, Trương Lưỡng B1, sinh ngày 26/10/2002; đã thành niên và có khả năng lao động và chưa thành niên tên Trương Gia H, sinh ngày 15/01/2012. Hiện cháu H đang sống chung với ông Trương Thanh N1 và để ổn định việc học hành và chăm sóc con chung nên khi ly hôn bà Nguyễn Thị N đồng ý cho ông Trương Thanh N1 được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Trương Gia H, sinh ngày 15/01/2012, bà Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trương Thanh N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Trương Thanh N1 không có văn bản thê hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 11/02/2025, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N. Ông Trương Thanh N1 đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Trương Thanh N1 vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1 là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

      Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Trương Thanh N1 không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trương Thanh N1.

    2. Về quan hệ con chung: Theo giấy khai sinh của Trương Tam B, Trương Lưỡng B1, Trương Gia H, lời trình bày của bà Nguyễn Thị N thì bà và ông Trương Thanh N1 có con chung tên Trương Tam B, sinh ngày 19/8/2004, Trương Lưỡng B1, sinh ngày 26/10/2002; đã thành niên và có khả năng lao động và chưa thành niên tên Trương Gia H, sinh ngày 15/01/2012, hiện do ông Trương Thanh N1 đang chăm sóc nuôi dưỡng.

      Xét thấy, con chung được ông Trương Thanh N1 giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu, tạo điều kiện cho cháu được ổn định về tâm sinh lý, chỗ ở, sinh hoạt và học tập; bà Nguyễn Thị N đồng ý cho ông Trương Thanh N1 nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung chưa thành niên tên Trương Gia H, sinh ngày 15/01/2012, cho ông Trương Thanh N1 được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Ông Trương Thanh N1 và các thành viên trong gia đình của ông Trương Thanh N1 không được cản trở bà Nguyễn Thị N thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

      Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

      Ông Trương Thanh N1 không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày giữa bà và ông Trương Thanh N1 về tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Trương Thanh N1 để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1.

    Giấy chứng nhận kết hôn số: 295, quyển số 02/2002, ngày 19/11/2002 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về quan hệ nuôi con: Có 03 (ba) con chung tên Trương Tam B, sinh ngày 19/8/2004, Trương Lưỡng B1, sinh ngày 26/10/2002; đã thành niên và có khả năng lao động và chưa thành niên tên Trương Gia H, sinh ngày 15/01/2012.
    1. Giao con chung chưa thành niên tên Trương Gia H, sinh ngày 15/01/2012 cho ông Trương Thanh N1 được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

      Bà Nguyễn Thị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Ông Trương Thanh N1 và các thành viên trong gia đình của ông Trương Thanh N1 không được cản trở bà Nguyễn Thị N thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

      Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    2. Ông Trương Thanh N1 không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tài sản chung và nợ chung giữa bà và ông Trương Thanh N1 là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009239 ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N và ông Trương Thanh N1 vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi Cục THADS huyện Châu Phú;
  • - UBND xã Bình Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ, Vp./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Võ Việt Nam

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Lê Cao Trí

Nguyễn Thị Thu Sương

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Võ Việt Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 133/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với với ông Trương Thanh N1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger