TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-12-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Tài
- Ông Lê Văn Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tuấn Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Mai Ly - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 382/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1995; địa chỉ: 9 ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ: 1 ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/7/2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân, chị và anh Nguyễn Văn H tiến tới hôn nhân là do quen biết, có tìm hiểu nhau và tự nguyên tiến tới hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre ngày 01/4/2019. Kết hôn xong cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc thời gian dài, tuy nhiên thời gian sau này vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình và nhiều vấn đề khác nhưng giữa chị và anh Nguyễn Văn H không hàn gắn được, chị và anh Nguyễn Văn H đã không còn sống chung với nhau, hai bên không có hàn gắn tình cảm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng dành cho anh Nguyễn Văn H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng cho chị khi ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 07/6/2021 hiện nay đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt trong tất cả các lần Tòa án triệu tập, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình thự thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 8, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T, cụ thề: Về hôn nhân: chị T được ly hôn với anh H. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết. Về con chung: chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 07/6/2021. Anh H được thăm nom, chăm sóc cháu H1 không ai được ngăn cản. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: chị T trình bày không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: chị T trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án có quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Văn H đăng ký thường trú tại ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/4/2019. Do đó, hôn nhân của chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của chị Nguyễn Thị Ngọc T cho rằng, quá trình sống chung giữa chị T và anh H có hạnh phúc một thời gian, sau đó thì không còn hạnh phúc do có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã không còn sống chung với nhau một khoảng thời gian nhưng không có gặp gỡ để hàn gắn tình cảm.
Đối với anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử. Như vậy, có cơ sở xác định anh Nguyễn Văn H không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Nguyễn Thị Ngọc T. Qua kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H qua đó cho thấy lời trình bày của chị Nguyễn Thị Ngọc T về mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T đối với anh Nguyễn Văn H. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, do chị Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu và không ghi nhận được ý kiến của anh Nguyễn Văn H nên không xem xét giải quyết.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 07/6/2021. Hiện tại, con chung đang sống chung với chị Nguyễn Thị Ngọc T và chị Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Thấy rằng, từ khi chị Nguyễn Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn H không còn sống chung thì chị Nguyễn Thị Ngọc T là người trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia H1. Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn H không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con chung của chị Nguyễn Thị Ngọc T. Xét thấy, chị Nguyễn Thị Ngọc T có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dạy cháu Nguyễn Gia H1 để cháu phát triển tốt về mọi mặt. Vì vậy, giao con chung là cháu Nguyễn Gia H1 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp và bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con chung. Chị Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày không yêu cầu giải quyết, đối với anh Nguyễn Văn H không có lời trình bày nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, đối với anh Nguyễn Văn H không có lời trình bày nên không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Do yêu cầu ly hôn được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị Ngọc T phải nộp án phí hôn nhân không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T đối với anh Nguyễn Văn H. Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Chị Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia H1, sinh ngày 07/6/2021 cho chị Nguyễn Thị Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Ngọc T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có căn cứ.
3. Về chia tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Văn H không có lời trình bày nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Văn H không có lời trình bày nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003615 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, án phí đã nộp đủ.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Hồ Văn Tú |
Bản án số 133/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 133/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc T ly hôn với Nguyễn Văn H
