|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 133/2024/HS - ST Ngày 30 - 10 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc H.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- - 1. Ông Nguyễn Xuân K.
- - 2. Ông Nguyễn Xuân Đ.
Thư ký phiên toà: Bà La Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
Bà Ngô Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Văn K1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1978 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Hoàng Văn B (Đã chết); Mẹ đẻ: Bùi Thị A, sinh năm 1946;
Họ tên vợ: Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1987; Con có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/6/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
2. Họ và tên: Lăng Văn T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Lăng Văn M, (đã chết); Mẹ đẻ: Chu Thị M1, sinh năm 1965
Họ tên vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1989. Con có 01 con, sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/6/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
Người đại diện cho bị cáo: Lăng Thị C, sinh năm 1984 ( Là chị gái bị cáo). Có mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn L1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- - Bị hại: Lăng Thị K2, sinh năm 1954 (đã chết)
- Địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Người đại diện của bị hại:
- Chu Văn K3, sinh năm 1982. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
- Địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Người làm chứng:
- Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
- Hoàng Văn C1, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn K1, sinh năm 1978, trú tại thôn C, P, huyện L có giấy phép lái xe hạng C. Khoảng 16 giờ ngày 20/3/2024, K1 điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, màu xanh, biển kiểm soát 98C-209.86 đi từ nhà ở thôn C, xã P, huyện L đi lên xã P, huyện L thu mua táo. Trên xe có chở theo vợ là chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1987 và em trai là anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1987, trú cùng địa chỉ.
Hoàng Văn K1 khai: Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến đoạn Km 83+50 thuộc địa phận thôn R, xã P, huyện L thì từ xa đã phát hiện phía trước cùng chiều bên phải 01 xe mô tô màu đỏ, biển kiểm soát 98N1-5693 do Lăng Văn T1, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã P, huyện L điều khiển chở theo bà Lăng Thị K2, sinh năm 1954, trú tại thôn R, xã P, huyện L. Lúc này, xe ô tô do K1 điều khiển cách xe mô tô của T1 khoảng 05m thì T1 điều khiển xe rẽ trái sang đường nhưng không có tín hiệu báo rẽ. K1 đã đạp phanh và đánh lái sang trái để tránh nhưng do khoảng cách gần nên phần đầu xe bên phải của xe ô tô do K1 điều khiển đã va chạm với phần tay lái bên trái xe mô tô do T1 điều khiển. Hậu quả xe của T1 bị đổ ra đường, hai xe đều bị hư hỏng, T1 và bà K2 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện L, sau đó chuyển tuyến lên Bệnh viện V1 để điều trị. Đến ngày 21/3/2024, bà K2 tử vong.
Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L đã tiến hành lập biên bản vụ việc hành chính, kiểm tra nồng độ cồn của Hoàng Văn K1 và khám nghiệm hiện trường; ngày 21/3/2024, đã báo cáo vụ việc và bàn giao hồ sơ, vật chứng thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường tại Km83+50 Quốc lộ B thuộc thôn R, xã P, huyện L: là đoạn đường thẳng, phẳng được trải nhựa có vạch kẻ đường chia 2 phần đường; mặt đường rộng 5m40, bên phải đường H - P có ngã ba đường rẽ làng R, xã P. Ngã ba rộng 9,2m. Quá trình khám nghiệm lấy mép đường bên phải T – Phong Vân làm mép chuẩn. Lấy cột mốc Km83 QL279 làm mốc chuẩn. Cách vị trí va chạm 50m có biển cảnh báo nguy hiểm đường giao nhau ở bên phải đường hướng P - T. Tại hiện trường phát hiện các dấu vết, phương tiện sau:
- - Xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng đi T, trục bánh trước cách mép đường phải 5,18m, trục bánh sau cách mép đường phải 4,65m.
- - Xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 đỗ trên mặt đường và khu đất bên phải đường, đầu xe hướng vào bên phải đường, trục bánh trước bên trái cách mép đường phải 2,3m, trục bánh trước bên phải cách mép đường phải là 3,2m, trục bánh sau bên trái tại mép đường phải, cách cột mốc Km83 là 48m, cách trục bánh trước, sau xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 lần lượt là 5,45m và 4,9m.
- - Dấu vết mài trượt mặt đường, bám dính chất màu đen, ký hiệu số 1, kích thước (19,6x0,3)m, hướng Phong Vân đi T, điểm đầu vết cách mép đường phải 2,4m, điểm cuối vết kéo dài tới vị trí xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 đỗ, cách mép đường phải 1,5m.
- - Dấu vết mài trượt mặt đường, bám dính chất màu đen, ký hiệu số 2, kích thước (14,5x0,1)m, hướng Phong Vân đi T, điểm đầu vết cách mép đường phải 03m, cách điểm đầu dấu vết số 1 là 5,8m, điểm cuối vết kéo dài tới vị trí xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 đỗ, kết thúc tại mép đường phải.
- - Dấu vết cày xước mặt đường, ký hiệu số 3, kích thước (6,1x0,35)m, hướng Phong Vân đi T, điểm đầu vết cách mép đường phải 03m, cách điểm đầu dấu vết số 2 là 8,5m, điểm cuối vết kết thúc tại vị trí xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 đổ, cách mép đường phải 4,7m.
- - Dấu vết mảnh nhựa vỡ trên mặt đường, ký hiệu số 4, kích thước (3,4x0,5)m, tâm vết cách mép đường phải 1,3m, cách điểm đầu dấu vết số 3 là 4,8m.
- - Đám chất màu nâu đỏ ký hiệu số 5 kích thước (70x13)cm, tâm đám chất màu nâu đỏ cách mép đường chuẩn 1,86m, cách trục sau xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 là 3,12m.
Quá trình khám nghiệm, tiến hành thu mẫu chất màu nâu niêm phong theo quy định, đám mảnh vỡ, tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 và xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86, đồng thời tạm giữ các giấy tờ do Hoàng Văn K1 tự nguyện giao nộp gồm: 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở G cấp ngày 12/11/2020, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký 98C-209.86, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường biển số đăng ký 98C-209.86 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô biển số đăng ký 98C-209.86.
Tiến hành rà soát camera an ninh tại hiện trường không có camera của xã và của nhà dân xung quanh nơi xảy ra vụ việc, kiểm tra xe ô tô không có camera hành trình.
Kết quả đo nồng độ cồn của Hoàng Văn K1 ngày 20/3/2024: 0,000mg/L.
* Kết quả khám nghiệm tử thi
Các dấu vết tổn thương cơ thể: Vùng đầu tóc đen, bạc, để dài, hai lỗ tai khô, hai mắt khép kín, đồng tử giãn to, hai lỗ mũi và khoang miệng có dịch đục. Vùng trán, cung mày, gò má trái có diện xây sát da kích thước (5x15)cm; gò má phải có diện xây sát da nông kích thước (2x1,5)cm; vùng ngực hai bên có nhều vết bầm tím da trên diện (26x16)cm; vùng đỉnh hai bên có diện sưng nề bầm tím kích thước (17x9)cm. Trên vùng đỉnh trái có vết rách da bờ mép không gọn kích thước (3,5x0,6)cm. Kiểm tra kỹ các cơ quan khác không phát hiện tổn thương.
Phẫu tích kiểm tra vết thương rách da vùng đỉnh trái thấy bầm tụ máu tổ chức dưới da dầu, đường vỡ nứt xương hộp sọ vùng đỉnh trái phần đo được dài 1,8cm, qua đường vỡ có máu không đông chảy ra. Thăm dò trong khoang lồng ngực, khoang ổ bụng bằng bơm kim tiêm không thấy máu.
Kết quả khám phương tiện:
* Khám xe ô tô tải màu xanh, biển kiểm soát: 98C-209.86.
- - Vỡ nhựa đèn pha phía trước bên phải có vết trượt sơn màu hồng kích thước (26x8)cm chiều từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, vết trượt nhựa chiều từ trái qua phải có chiều dài 13cm.
- - Tai xe bên phải có vết lõm chiều từ ngoài vào trong diện tích (13x17)cm.
- - Nắp capo có vết trầy xước kim loại theo hướng từ trên xuống dưới kích thước (5x1)cm, tại vị trí tương ứng có vết mài trượt cao su màu đen chiều từ trên xuống kích thước (7x4)cm.
- - T2 nhựa màu trắng nắp capo bên phải có vết trầy nhựa hướng từ ngoài vào trong kích thước (2x0,5)cm, ba đờ sốc bật rời khỏi vị trí ban đầu, bên phải ba đờ sốc có vết mài trượt nhựa màu sơn hồng chiều từ trên xuống dưới kích thước (16x2)cm.
- - Sườn bên phải ba đờ sốc có vết mài trượt nhựa màu đen chiều từ phải sang trái dài (15x8) cm và vết mài trượt bê tông trên diện (20x15)cm.
- - Khu vực bậc giẫm lên xuống bên phải có vết mài trượt cao su màu đen diện (16x2)cm, theo chiều từ trước về sau.
- - Gương chiếu hậu bên phải gãy, bật rời khỏi vị trí ban đầu.
* Khám xe mô tô màu đỏ biển kiểm soát 98N1-5693:
- - Đèn pha, đèn xi nhan bật rời khỏi vị trí ban đầu.
- - Gương chiếu hậu bên trái mất, bật rời.
- - Phía dưới mặt nạ xe có vết lõm nhựa (8x0,5)cm.
- - Ốp nhựa chắn bùn, ốp nhựa bảo vệ giảm xóc phía trước bên trái bật rời khỏi vị trí ban đầu.
- - Tay lái bên trái gãy, bật rời khỏi vị trí ban đầu.
- - T2 kim loại gắn gương chiếu hậu bên trái cong chiều từ ngoài vào trong.
- - Phần nhựa đầu xe bên trái có vết mài trượt chiều từ dưới lên trên (3,5x2)cm.
- - Đầu tay phanh bên phải có vết mài trượt kim loại chiều từ trái sang phải (1x1)cm.
- - Đầu tay lái bên phải có vết trày nhựa.
- - Cánh yếm bên trái vỡ, bật rời khỏi vị trí ban đầu.
- - T2 kim loại treo đồ bên trái cong chiều từ sau ra trước.
- - Chắn bùn bánh trước phía sau có vết trầy nhựa, mất sơn, bám dính cao su (9x2)cm.
- - Yếm xe có vết trầy kích thước (12x1)cm
- - Tay xách phía sau xe có vết trầy kim loại kích thước (2x0,5)cm
- - Chắn bùn phía sau bánh sau có vết trầy xước kim loại (2x1)cm
Ngày 05/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành dựng lại hiện trường và thực nghiệm điều tra để xác định khoảng cách giữa hai xe tại thời điểm trước khi xe mô tô 98N1-5693 chuyển hướng rẽ trái theo lời khai của Hoàng Văn K1 và anh Hoàng Văn C1 (người làm chứng). Kết quả thực nghiệm xác định khoảng cách từ trục trước bánh xe bên phụ đến trục sau xe mô tô 98N1-5693 là 4,3m, khoảng cách từ đầu xe bên phụ đến yếm xe bên trái xe mô tô 98N1-5693 là 4,1m.
Kết quả giám định:
Ngày 16/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định về cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường và dấu vết trên phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Tại Kết luận giám định số 1068/KL-KTHS ngày 16/5/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dấu vết hằn lõm, trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại bên phải ốp kim loại đầu xe, đèn pha bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 209.86, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 5 đến 8 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết bật gãy kim loại, trượt xước cao su tại tay nắm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N1 - 5693 (ảnh số 19, 20 bản ảnh khám phương tiện).
Dấu vết mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) tại bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 10 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết dập vỡ, mài sát sơn, nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) tại bên trái 1/2 sau chắn bùn bánh trước, cạnh ngoài cánh yếm bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693, có chiều hướng từ sau ra trước (ảnh số 13, 21, 22 bản ảnh khám phương tiện).
2. Dấu vết mài trượt ký hiệu số 1, số 2 phù hợp với quá trình xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 rê trượt trên mặt đường tạo nên. Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 3 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên.
3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C - 209.86 với xe mô tô biển kiểm soát 98N1 - 5693 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3, không xác định được thuộc chiều chuyển động bên phải hay bên trái theo hướng T đi P.
4. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô biển kiểm soát 98C - 209.86 chuyển động theo hướng Phong V đi T va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98N1 - 5693 ở phía trước, đầu xe chếch chéo sang bên trái (tính theo chiều chuyển động của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 209.86).
5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”
Tại bản kết luận giám định tử thi số 874/KLGĐTT-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Lăng Thị K2 do chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ vùng đỉnh trái. Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tác động với vật tàu, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên. Tổn thương vỡ xương hộp sọ được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.
Về giám định máu: Tại bản kết luận giám định số 995/KL-KTHS ngày 07/5/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu được niêm phong trong phong bì ghi “vết máu thu nhận ở vị trí số 5” có máu người, không xác định được nhóm máu do lượng dấu vết ít.
Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Lăng Văn T1. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2413/24/KLTTCT-TTPY ngày 01/7/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Thương tích vết sẹo mổ vùng trán - thái dương - đỉnh phải kích thước trung bình, diện khuyết xương dưới vết mổ đường kính ~ 15cm, đáy phập phồng + Sẹo mổ dẫn lưu vùng trán - thái dương - đỉnh phải kích thước nhỏ + Vết sẹo mổ vùng thái dương - đỉnh trái kích thước trung bình + Vết sẹo mổ dẫn lưu vùng thái dương - đỉnh trái + CT sọ não ngày 21/3/2024: Tụ máu, khí ngoài màng cứng vùng đỉnh trái kích thước 55x17cm. Tụ máu dưới màng cứng bản cầu não phải ~ 8mm. Nhu mô não thùy trán và thái dương phải có các ổ đụng dập, ổ lớn nhất ở thùy trán phải kích thước khoảng 22x20mm. Chảy máu dưới nhện dọc liềm đại não và lều tiểu não hai bên, trong các rãnh cuộn não thùy trán - thái dương - đính phải. Vỡ xương đỉnh - chẩm trái, đường vỡ lan vào xương thái dương trái + Chụp cắt lớp vi tính sọ não: Hình ảnh ổ khuyết não do tổn thương cũ thủy trán phải, đường kính ~ 21x46mm. Khuyết xương sọ vùng trán thái dương phải sau mổ, đường kính ~ 15cm, lỗ khuyết xương đường kính ~ 13mm trong vùng mở xương thái dương chẩm trái sau mổ + Điện não đồ: Hoạt động dạng chấn động não: 73%
- - Chạm thương vùng mặt không còn dấu vết: 0%
- - Chạm thương vùng xương đòn trái không còn dấu vết + Chụp X-quang ngực thẳng: Gãy 1/3 giữa xương đòn trái, đã can trục thẳng: 8%
- - Thương tích vết sẹo mu bàn tay trái kích thước nhỏ: 1%
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lăng Văn T1 tại thời điểm giảm định là: 75% (Bẩy mươi lăm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- - Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên.”
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc, lấy lời khai đối với Lăng Văn T1, tuy nhiên tình trạng nhận thức của T1 kém, phản ứng chậm với những câu hỏi của cán bộ điều tra. Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 1147/QĐ-ĐTTH giám định pháp y tâm thần đối với Lăng Văn T1. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 118/KLGĐ ngày 15/8/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:
“1. Lăng Văn T1, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang bị bệnh: Các rối loạn khí sắc (cảm xúc) thực tổn, có mã F06.3 (Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loạn tâm thần và hành vi)
2. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Lăng Văn T1 không bị bệnh tâm thần. Lăng Văn T1 đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
3. Hiện tại (tại thời điểm giám định) Lăng Văn T1 bị bệnh: Các rối loạn khí sắc (cảm xúc) thực tổn, mức độ vừa. Lăng Văn T1 hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.”
Về thiệt hại của các phương tiện:
Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐ ĐGTS ngày 04/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L: xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 bị thiệt hại: 8.000.000 đồng.
- Tại kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐ ĐGTS ngày 04/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L: xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 bị thiệt hại: 430.000 đồng.
Quá trình điều tra, do Lăng Văn T1 không có giấy phép lái xe để cung cấp, cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Sở giao thông vận tải tỉnh G phối hợp cung cấp thông tin. Tại công văn số 1353/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 31/5/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh G xác định: tại thời điểm tra cứu trên hệ thống quản lý GPLX toàn quốc do ngành GTVT quản lý: Không có thông tin giấy phép lái xe được cấp cho Lăng Văn T1, sinh năm 1990, HKTT: Vựa Ngoài, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nguyên nhân dẫn đến vụ tại nạn giao thông là do lỗi hỗn hợp: Hoàng Văn K1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy liền trước xe của mình, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn tại đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm đường giao nhau, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, Điều 5 thông tư số 31/2019/TT-BGTVT. Lăng Văn T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N1 – 5693 khi không có giấy phép lái xe theo quy định, chuyển hướng không có tín hiệu báo rẽ, không đảm bảo đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn giao thông, vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định:
“Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”
“Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình;”
Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định:
“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;”
Khoản 9 Điều 8 và khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định:
“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
...
9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.”
“Điều 15. Chuyển hướng xe
1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, .... chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.”
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản cáo trạng số: 136/ CT - VKS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn Khải về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lăng Văn T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với các bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt các bị cáo như sau:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K1 từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về UBND xã P, huyện L quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s, q khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lăng Văn T1 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về UBND xã P, huyện L quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn K1 và đại diện gia đình bà Lăng Thị K2, bị cáo Lăng Văn T1 đã thoả thuận bồi thường xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn K1 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] do sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 12/11/2020 mang tên Hoàng Văn K1.
* Án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23; Điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn K1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lăng Văn T1.
Tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn K1 và Lăng Văn T1 khai nhận đúng hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.
Người bào chữa cho bị cáo Lăng Văn T1 trình bày: Nhất trí về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về phần hình phạt, do bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đưa ra là phù hợp.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện bị hại vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ, nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định khoảng 16 giờ 45 phút ngày 20/3/2024, tại Km 83+50 thuộc địa phận thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hoàng Văn K1 có giấy phép lái xe hạng C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-209.86 hướng xã P đi T va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98N1 – 5693 do Lăng Văn T1 chưa có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển phía trước cùng chiều, chở theo bà Lăng Thị K2, sinh năm 1954, trú tại thôn R, xã P, huyện L; tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe do T1 điều khiển chuyển hướng rẽ trái sang đường nhưng không có tín hiệu báo rẽ. Hậu quả bà Lăng Thị K2 bị thương được đưa đi cấp cứu và tử vong ngày 21/3/2024, Lăng Văn T1 bị tổn thương 75% (Bẩy mươi lăm phần trăm) sức khỏe.
Vì vậy bản cáo trạng số 136/ CT - VKS ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với các bị cáo Hoàng Văn K1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lăng Văn T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn công cộng tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Xét tình hình tai nạn giao thông hiện nay ở địa phương cha có chiều hớng giảm. Nguyên nhân do ý thức của ngời tham gia giao thông không chấp hành đúng luật giao thông đờng bộ đã gây thơng tật, mất sức lao động, gây nên những cái chết thơng tâm cho những ngời tham gia giao thông nên phải ra một bản án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Đối với bị cáo Hoàng Văn K1, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội do bị hại cũng có một phần lỗi, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên bị cáo đợc hởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại cũng có một phần lỗi, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện viện kiểm sát cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Lăng Văn T1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả hiện bị cáo là người hạn chế khả năng nhận thức, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo đợc hởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, q khoản 1, 2 điều 51 BLHS.
Xét bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện đang bị hạn chế khả năng nhận thức, bản thân bị thương tích 75%, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, nên ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là không phù hợp.
[6] Về vấn đề khác:
Đối với bà Chu Thị M1, sinh năm 1965, trú tại thôn V, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98N1 – 5693. Quá trình điều tra xác định bà M1 là mẹ của Lăng Văn T1. Ngày 20/3/2024, bà M1 có biết việc T1 sử dụng chiếc xe mô tô trên để chở bà Lăng Thị K2 về nhà tại thôn R, xã P, huyện L, nhưng không biết việc T1 chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Do đó không có căn cứ để xem xét xử lý đối với bà M1 về hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Văn K1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Lăng Thị K2 số tiền 150.000.000 đồng và bồi thường cho Lăng Văn T1 số tiền 155.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà K2 và T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Văn K1. Lăng Văn T1 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Lăng Thị K2 số tiền 15.000.000đồng, đại diện gia đình bà K2 không đề nghị bồi thường gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về vật chứng: Ngày 18/9/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô BKS 98C-209.86 cùng các giấy tờ xe gồm: 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký 98C-209.86, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường biển số đăng ký 98C-209.86 và 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô biển số đăng ký 98C-209.86 cho Hoàng Văn K1 và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 98N1-5693 cho bà Chu Thị M1 là chủ sở hữu theo quy định. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở G cấp ngày 12/11/2020 mang tên Hoàng Văn K1 được chuyển đến Chi cục thi hành án dân huyện Lục Ngạn theo biên bản giao vật chứng ngày 11/10/2024 cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
[9] Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; Điều 21; Điều 23; điểm đ Điều Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lăng Văn T1.
[10]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K1 01 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời gian thử thách 03 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo về UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s, q khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lăng Văn T1 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo về UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo Luật thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Hoàng Văn K1 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở G cấp ngày 12/11/2020 mang tên Hoàng Văn K1
4. Án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; 21; 23, điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn K1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lăng Văn T1.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 133/2024/HS - ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 133/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn K; Lăng Văn T - VPQĐTGGTĐB
