Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày: 26.9.2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận

Ông Trần Minh Tám

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN NGỌC P, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 10 năm 1994

tại thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: K đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc L và bà Mai Thị B; Gia đình có 03 anh chị em; Bị cáo là con thứ ba, Vợ con chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 29/05/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01.5.2024. Hiện có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lê Thị D, sinh năm 1993; Trú tại: K đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
  • + Bà Mai Thị B, sinh năm 1957; Trú tại: K đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
  • + Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1958; Trú tại: K đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 01/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Ngọc P sử dụng zalo của P liên hệ với tài khoản zalo của một người tên L (không rõ lai lịch) để hỏi mua 08 viên ma túy thuốc lắc giá 2.400.000 đồng, 02 gói ma túy nước vui Ferrari giá 5.000.000 đồng và 2.000.000 đồng ma túy khay với tổng số tiền 9.400.000 đồng, hẹn giao ma túy tại B thành phố Đà Nẵng. Sau đó, P điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng biển kiểm soát 43A-813.89 đến khu vực đã hẹn để lấy ma túy và đưa tiền cho L, P cất giấu số ma tuý trên vào khe hở của hàng ghế thứ 2 trên xe ôtô rồi đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, P điều khiển xe ôtô trên chở ba mẹ là ông Nguyễn Ngọc L (sinh năm: 1958), bà Mai Thị B (sinh năm: 1957), cùng trú tại: Tổ D, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng và bạn gái của P là chị Lê Thị D (sinh năm: 1993, trú tại: Tổ C, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng) đi ăn tối. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn tối xong, P điều khiển xe ôtô trên chở ba mẹ và bạn gái về lại nhà. Khi đi đến ngã tư C - H thu thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận T phát hiện, thu giữ bên trong khe hở của hàng ghế thứ 2 bên trong xe ô tô gồm: 01 gói ni lông kích thước (5x8) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu G1; 01 gói ni lông bên trong có chứa 08 viên nén màu xám hình lựu đạn, được niêm phong, ký hiệu G2; 02 gói màu đỏ vàng có in chữ Ferrari bên trong chứa chất không rõ loại được hàn kín 2 đầu, được niêm phong, kỳ hiệu G3. P khai nhận số ma túy thu giữ được P cất để sử dụng cho bản thân. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Nguyễn Ngọc P vào lúc 01 giờ 45 phút ngày 02/5/2024 tại địa chỉ K N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, thu giữ dụng cụ P sử dụng ma túy gồm: 01 đĩa sứ màu trắng kích thước 23cm và 01 thẻ nhựa màu cam có chữ được niêm phong, ký hiệu G4. P khai nhận cách ngày bị bắt khoảng 02 tháng, P đi sinh nhận của bạn bè ngoài xã hội tại quán karaoke ở quận S, thành phố Đà Nẵng có sử dụng ma túy khay (không rõ nguồn gốc) nhưng còn một ít thì P đem về nhà sử dụng một mình hết. Qua thử test nước tiểu, kết quả Nguyễn Ngọc P, Lê Thị Diễm Đ âm tính với chất ma túy

Tại Bản kết luận giám định số: 351/KL-KTHS ngày 09/05/2024 của Phòng K, Công an thành phố Đ kết luận: “- Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine; khối lượng mẫu G1: 4,945 gam. - Chất bám dính màu trắng trên 01 dĩa sử màu trắng và 01 thẻ nhựa màu cam có chữ "Hermes Paris" trong hộp niêm phong ký hiệu G4 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine; không xác định khối lượng mẫu G4. 08 viên nén màu xám hình lựu đạn

trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA; khối lượng mẫu G2: 4,159 gam. Chất bột màu cam trong 02 gói màu đỏ vàng có in chữ Ferrari trong bì niêm phong ký hiệu G3 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, Ketamine, N,; khối lượng mẫu G3: 3,172 gam".

Tại bản kết luận giám định số 1197/KL-KTHS ngày 13/06/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Chất bột màu cam gửi giám định có hàm lượng từng chất ma tuý như sau: Methamphetamine là 1,2%; Ketamine là 11,5%; Nimetazepam là 6,9%. Tổng khối lượng ma túy Nguyễn Ngọc P cất giấu trái phép nhằm mục đích sử dụng là (4,945 gam Ketamine: 20 x 100%) + (4,159 gam MDMA: 5 x 100%) + 3,172 gam ma túy hỗn hợp (1,2% Methamphetamine + 11,5% Ketamine + 6,9% Nimetazepam) = 127,5% > 100%. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định “về việc tỉnh tổng khối lượng hoặc tổng thể tích chất ma tuý tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015" thì số ma túy Nguyễn Ngọc P tàng trữ trái phép nêu trên thuộc trường hợp quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng.

  1. Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 351/KL-KTHS ngày 09/5/2024, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ.
  2. Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 1197/KL-KTHS ngày 13/6/2024, có đóng dấu giáp lai của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
  3. 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng biển kiểm soát 43A-813.89 đứng tên Nguyễn Ngọc P, xe mua vào tháng 3/2024. P không có nghề nghiệp nên ba mẹ cho tiền mua xe để P chạy grab và cho P đứng tên trên giấy đăng ký xe.
  4. 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 356579554821176, gắn sim số 0935.599.127 (P sử dụng liên lạc mua ma túy).
  5. Số tiền 800.000đồng (P sử dụng tiêu xài cá nhân).
  6. 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 359272536448246, gắn sim số 0775.898.653 (P sử dụng liên lạc cá nhân).
  7. 01 Ipad màu xám, số imei: 35206100139050 (Phụng sử dụng cá nhân) TH Đối với các tang vật nêu trên (gồm 07 khoản) chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý. 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, số imei: 356616949671641, gắn sim số 0899.912.810, là điện thoại của chị Lê Thị D sử dụng để liên lạc cá nhân. Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại điện thoại cho chị D.

Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố Nguyễn Ngọc P1 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" áp dụng tại điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy đối với :

  • + Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 351/KL-KTHS ngày 09/5/2024, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ.
  • + Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 1197/KL-KTHS ngày 13/6/2024, có đóng dấu giáp lai của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 356579554821176, gắn sim số 0935.599.127, P sử dụng liên lạc mua ma túy.

Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 359272536448246, gắn sim số 0775.898.653, Số tiền 800.000 đồng; 01 Ipad màu xám, số imei: 35206100139050 không liên quan trong vụ án.

Trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng biển kiểm soát 43A-813.89 đứng tên Nguyễn Ngọc P, xe mua vào tháng 3/2024. P không có nghề nghiệp nên ba mẹ cho tiền mua xe để P chạy grab và cho P đứng tên trên giấy đăng ký xe

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, số imei: 356616949671641, gắn sim số 0899.912.810, là điện thoại của chị Lê Thị D sử dụng để liên lạc cá nhân. Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại điện thoại cho chị D.

Đối với ông Nguyễn Ngọc L, bà Mai Thị B và chị Lê Thị D không biết việc Nguyễn Ngọc P cất giấu trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý là đảm bảo.

Đối với nam thanh niên tên L có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Ngọc P, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc P cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình để chăm sóc cha mẹ già yếu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, tại đoạn ngã tư đường C - H thuộc phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng, khi Nguyễn Ngọc P đang có hành vi tàng trữ trái phép nhiều loại chất ma túy gồm: 5,318 gam Ketamine; 4,159 gam MDMA, 0,038 gam Methamphetamine và 0,218 gam Nimetazepam nhằm mục đích sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận T, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng số 115/CT-VKSTK ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Ngọc P có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 5 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Ngọc P đã liên hệ một người thành niên tên L (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma tuý nhiều chất ma túy gồm: 5,318 gam Ketamine; 4,159 gam MDMA, 0,038 gam Methamphetamine và 0,218 gam Nimetazepam nhằm mục đích sử dụng nên thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm n khoản 2 Điều 294 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma tuý, gây khó khăn cho công tác kiểm soát chất ma tuý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của

đời sống xã hội. Do đó phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Ngọc P không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[6] Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 249 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng)

[7] Về xử lý vật chứng gồm:

  • - Đối với ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 351/KL-KTHS ngày 09/5/2024, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ và ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 1197/KL-KTHS ngày 13/6/2024, có đóng dấu giáp lai của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng, cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 356579554821176, gắn sim số 0935.599.127, Nguyễn Ngọc P sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 359272536448246, gắn sim số 0775.898.653; số tiền 800.000 đồng; 01 Ipad màu xám, số imei: 35206100139050 cho Nguyễn Ngọc P nhưng cần quy trữ để đảm bảo thi han án.
  • - Trả 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng biển kiểm soát 43A-813.89 cho Nguyễn Ngọc P.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.09.2024 và B1 lại thu tiền số 0000321 ngày 09.09.2024).

  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, số imei: 356616949671641, gắn sim số 0899.912.810, là điện thoại của chị Lê Thị D sử dụng để liên lạc cá nhân. Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại điện thoại cho chị D là phù hợp.
  • [8] Đối với người thanh niên tên L là người đã mua ma túy cho Nguyễn Ngọc P nhưng không rõ nhân thân lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
  • [9] Đối với ông Nguyễn Ngọc L, bà Mai Thị B và chị Lê Thị D là người đi cùng Nguyễn Ngọc P nhưng không biết việc P mua ma túy cất giấu để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý là có căn cứ.
  • [10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc P 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 5 năm 2024.

    Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P sô tiền: 5.000.000đ (năm triệu đồng).

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
    • - Tịch thu, tiêu hủy ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 351/KL-KTHS ngày 09/5/2024, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố Đ và ma túy hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 1197/KL-KTHS ngày 13/6/2024, có đóng dấu giáp lai của Phân viện Kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng.
    • - Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 356579554821176, gắn sim số 0935.599.127của Nguyễn Ngọc P sử dụng liên lạc mua ma túy.
    • - Trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số imei: 359272536448246, gắn sim số 0775.898.653, Số tiền 800.000 đồng; 01 Ipad màu xám, số imei: 35206100139050 cho Nguyễn Ngọc P nhưng cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Trả 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitshubishi Xpander màu trắng biển kiểm soát 43A-813.89 cho Nguyễn Ngọc P.

    (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 và B1 lại thu tiền số 0000321 ngày 09/9/2024).

  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016, bị cáo Nguyễn Ngọc P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
  4. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - Nhà tạm giữ CA Q. Thanh Khê;
  • - Trại tạm giam CA TP Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT CA quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Thanh Khê;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - Lưu Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger