Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ;
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Vư
  • Ông Tẩn Chỉn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A T; sinh ngày: 22/12/1973, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản X, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Sùng Sua P (đã chết); Con bà: Lý Thị T1 (đã chết); Vợ: Giàng Thị M, sinh năm 1975; Con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không.

* Nhân thân: tại Bản án số 02/2016/HSST ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ, sung năm 2009) miễn trách nhiệm hình sự cho Sùng A T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Giàng Thị M, sinh năm 1975; Trú tại: bản X, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt không lý do)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024, bị cáo được chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Lai Châu cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 05/6/2024, Sùng A T, sinh ngày 22/12/1973, trú tại bản Xin Chải, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-240.29 (là tài sản chung của vợ chồng bị cáo) đi từ nhà đến bản X, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Xì Phài, T gặp và mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch 02 gói Heroine giá 300.000 đồng. Mua được H, T cất giấu trong túi vải đeo trên người rồi đi về nhà. Đến 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi Sùng A T đi về đến bản T, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu thì bị Đội cảnh sát giao thông, trật tự Công an huyện P đanh làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra và phát hiện bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người, vật chứng thu giữ của T là 02 gói Heroine, 01 túi vải có dây đeo và 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 240.29.

Tại Kết luận giám định số: 42KL-GĐVV, ngày 05/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số: 675/KL-KTHS, ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an Tỉnh L kết luận: 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A T có khối lượng là 0,515 gam là chất ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số: 79/CT-VKS, ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố Sùng A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sùng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng A T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,34 gam Heroine còn lại sau giám định, 02 mảnh nilon màu xanh, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 túi vải có dây đeo; tịch thu hóa giá sung quỹ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-240.29 kèm theo 01 giấy đăng ký xe.

2

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Sùng A T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến, khiếu nại về cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cũng như không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Giàng Thị M, sinh năm 1975; Trú tại: bản X, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, đã được Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ nhưng chị M vẫn vắng mặt không lý do. Đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đều có ý kiến phiên tòa vẫn tiếp tục được đưa ra xét xử vì sự vắng mặt của chị M không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhất trí vụ án vẫn được đưa ra xét xử.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện: vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 05/6/2024, tại bản T, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, Sùng A T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,515 gam, mục đích để sử dụng thì bị Đội cảnh sát giao thông, trật tự Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy Sùng A T khai mua của một người không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ người đàn ông đã bán Heroine cho T. Còn đối với Giàng Thị M là vợ của bị cáo, cũng là đồng sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-298.58. Quá trình điều tra xác định, khi T sử dụng chiếc xe mô tô đi mua ma tuý về sử dụng, T không nói cho M biết và M cũng không biết. Do vậy, Giàng Thị M không đồng phạm trong vụ án này.

Bị cáo Sùng A T là người nghiện chất ma túy lâu năm, bị cáo đi mua Heroine về tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Sùng A T là người có

3

đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, có cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Sùng A T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản... Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 0,34 gam Heroine còn lại sau giám định, 02 mảnh nilon màu xanh, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 túi vải có dây đeo, đều là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng; tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-240.29 kèm theo 01 giấy đăng ký xe, là công cụ, phương tiện mà Sùng A T đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội,

[6] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do vậy, áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1

4

Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Quyết định số: 861/QĐ-TTg, ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

[1] Tuyên bố bị cáo Sùng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

[2] Về hình phạt: xử phạt bị cáo Sùng A T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về vật chứng: tịch thu, tiêu hủy: 0,34 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu xanh, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 túi vải có dây đeo; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-240.29 kèm theo 01 giấy đăng ký xe.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 25 phút ngày 20/9/2024 giữa Công an huyện P, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

[4] Về án phí: bị cáo Sùng A T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.

5

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huệ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger