Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨNG LIÊM

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/DS-ST

Ngày: 13/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM- TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm.
  2. Ông Trần Văn Lập.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2024/TLST- DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 308/2024/QĐXX-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần A

Địa chỉ trụ sở: số 266-268, N, phường S, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Vĩnh Long (Theo Quyết định số: 3524/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 .vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Phú Q – Chức vụ: chuyên viên Quản lý nợ - Phòng KSRR – Chi nhánh Vĩnh Long (Giấy ủy quyền ngày 05/01/2024, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 13/9/2024).

Địa chỉ: số B, đường 3/2, phường B, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/04/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A trình bày: Ngày 03/05/2019, Ngân hàng TMCP A có ký với anh Nguyễn Hoàng V hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của anh V, Ngân hàng đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng với hạn mức: 23.000.000 đồng, số thẻ: 526830-4629. Lãi suất trong hạn tại thời điểm cấp thẻ là 2,15%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân, khi phát sinh quá hạn, áp dụng lãi suất bằng 150% lãi suất ghi trên hợp đồng. Quá trình giao dịch được thể hiện chi tiết trên bản sao kê quá hạn thẻ, thứ tự thanh toán thẻ tín dụng. Do anh V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/07/2021 Ngân hàng đã tạm khóa quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng TMCP A yêu cầu anh V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 05/01/2024 là 47.946.315 đồng, trong đó dư nợ: 22.113.859 đồng, lãi quá hạn: 25.832.456 đồng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 06/01/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ vay. Anh V phải chịu toàn bộ án phí.

Đối với bị đơn Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có bản khai gởi Tòa án theo Thông báo thụ lý vụ án, không đến Tòa án theo Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đồng thời được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt có nội dung: Yêu cầu anh V phải trả nguyên đơn số tiền dư nợ là 22.113.859 đồng, tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 33.076.952 đồng, tổng cộng là 55.190.811 đồng và phải chịu lãi phát sinh của khoản nợ vay tín dụng từ ngày 13/09/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm theo quy định tại Điều 26, 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 quy định: “Trường hợp đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú. Trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự 2015, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn”. Công an xã T xác nhận bị đơn anh Nguyễn Hoàng V có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã T, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Theo kết quả tra cứu thông tin trên hệ thống dữ liệu quốc gia về dân cư thì anh Nguyễn Hoàng V không có đăng ký tại nơi khác. Do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn anh V hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, anh V không có văn bản nêu ý kiến và không giao nộp tài liệu chứng cứ để chứng minh hoặc phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu và chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để giải quyết theo thủ tục chung, anh V phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91, 96 và 97 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Ngày 03/5/2019, giữa Ngân hàng TMCP A và anh Nguyễn Hoàng V có ký một hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng, số hợp đồng 1254245. Ngân hàng TMCP A đã cấp 01 thẻ tín dụng với hạn mức: 23.000.000 đồng, số thẻ: 526830-4629. Lãi suất trong hạn tại thời điểm cấp thẻ là 2,15%/ tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất ghi trên hợp đồng.

[4]. Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do anh V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu trả số tiền dư nợ, lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là phù hợp pháp luật. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn anh V có nghĩa vụ trả nguyên đơn số tiền dư nợ là 22.113.859 đồng, tiền lãi quá hạn tính từ ngày 22/07/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 13/9/2024 là 33.076.952 đồng, tổng cộng là 55.190.811 đồng và phải chịu lãi phát sinh của khoản vay thẻ tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong khoản nợ.

[5] Về án phí sơ thẩm: Anh V phải nộp án phí sơ thẩm là : 55.190.811 đồng x 5% = 2.759.500đ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP A. Buộc anh Nguyễn Hoàng V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền dư nợ là: 22.113.859 đồng (hai mươi hai triệu, một trăm mười ba ngàn, tám trăm năm mươi chín đồng), tiền lãi quá hạn là 33.076.952 đồng (ba mươi ba triệu, không trăm bảy mươi sáu ngàn, chín trăm năm mươi hai đồng), tổng cộng là 55.190.811 đồng (năm mươi lăm triệu, một trăm chín mươi ngàn, tám trăm mười một đồng).
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  3. Về án phí sơ thẩm:
    • - Anh Nguyễn Hoàng V phải nộp án phí sơ thẩm là 2.759.500đ (hai triệu bảy trăm năm mươi chín ngàn năm trăm đồng).
    • - Ngân hàng TMCP A không phải nộp án phí sơ thẩm; hoàn trả Ngân hàng TMCP A số tiền nộp tạm ứng án phí 1.199.000đ (một triệu một trăm chín mươi chín ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009098 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long.
  • - VKSND huyện Vũng Liêm
  • - Chi cục THADS huyện Vũng Liêm
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Ngọc Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 133/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger