TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 133/2024/DS-ST Ngày 10-9-2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Huỳnh Anh Thư.
Ông Nguyễn Quốc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 05 và 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 105/2024/QĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ D, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Thái Thanh H, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ B, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 21/8/2023); vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1998; địa chỉ: thửa đất số 1053 – 1054, tờ bản đồ số 47, đường số E, tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 21/8/2023); có mặt.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Bạch H1, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ F, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Nguyễn Trường C, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ F, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ B, khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ E, khu phố H, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Văn phòng C1; địa chỉ: thửa đất số 05, lô A – Khu dân cư T, đường số A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Trần Dũng S, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ D, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Lê Thị N2, sinh năm 1984; địa chỉ: tổ D, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B;
Người đại diện hợp pháp: ông Võ Phi H4 – chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Công văn số 3029/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 04/7/2024); có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Tấn L, chức vụ: Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 05/7/2024); có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện ngày 20/9/2023, Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 03/10/2023; đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/01/2024 và ngày 11/7/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Thái Thanh H và ông Nguyễn Hữu K trình bày:
Bà Nguyễn Thị N là con của cụ Ngô Thị H5, sinh năm 1937, chết ngày 11/05/2019 theo Trích lục khai tử số 490/TLKT-BS do Ủy ban nhân dân phường K cấp ngày 23/5/2019. Cha và mẹ của cụ Ngô Thị H5 không rõ họ tên, năm sinh, năm chết nhưng đều chết trước cụ Ngô Thị H5 và không có giấy chứng tử. Cha mẹ cụ H5 có 02 người con gồm: Ngô Thị H5 và Ngô Thị D.
Cụ Ngô Thị D chết ngày 16/7/2015 theo Giấy chứng tử số 37 do Ủy ban nhân dân phường K cấp ngày 07/8/2015. Cụ D có chồng là Trương Văn Q (liệt sĩ), chết trước cụ D. Cụ D và cụ Q không có con chung.
Cụ Ngô Thị H5 có chồng là cụ Nguyễn Văn D1, sinh năm 1933, chết trước năm 1975, không có giấy chứng tử. Cụ Ngô Thị H5 và cụ Nguyễn Văn D1 có 04 người con chung gồm:
- Ông Nguyễn Huy H6, sinh năm 1960, chết năm 2022.
Ông Nguyễn Huy H6 có vợ là bà Nguyễn Thị Bạch H1, sinh năm 1965. Ông Nguyễn Huy H6 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 có 02 người con chung gồm: Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1987 và Nguyễn Trường C, sinh năm 1991.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963.
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1964.
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971.
Ngoài ra, cụ H5 và cụ D1 không có người con nuôi hay con riêng nào khác.
Cụ Ngô Thị H5 chết không để lại di chúc, có để lại di sản là quyền sử dụng đất diện tích 98,5m² thuộc thửa đất số 1082, tờ bản đồ 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và 01 căn nhà cấp 4 có diện tích 46,8m², có quy cách: chiều ngang 4m, chiều dài 11,7m gắn liền với thửa đất nêu trên. Nguồn gốc hình thành và quá trình quản lý, sử dụng những tài sản nêu trên như sau:
Sinh thời, cụ Ngô Thị H5 tạo lập được tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 1.301m² thuộc các thửa đất số 114, 117, tờ bản đồ 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trên thửa đất 117 có một căn nhà cấp 4 và một căn nhà tình nghĩa có diện tích đo đạc thực tế là 46,8m². Căn nhà tình nghĩa do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên xây dựng tặng cho cụ Ngô Thị D (là chị ruột của cụ Ngô Thị H5) theo Quyết định số 754/2001/QĐ- CT ngày 16/7/2001.
Ngày 15/03/2013, con dâu cụ Ngô Thị H5 là bà Nguyễn Thị Bạch H1 đã dùng thủ đoạn gian đối để lừa cụ Ngô Thị H5 ký tên vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (được Văn phòng C2 chứng nhận số công chứng 0996, quyển số 04-TP/CC- SCC/HĐGD) đối với phần đất có diện tích 1.301m² thuộc các thửa đất số 114, 117, tờ bản đồ 29. Ngày 28/05/2013, bà Nguyễn Thị Bạch H1 được Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền dụng đất số vào sổ CH 03750 đối với thửa đất số 117 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03751 đối với thửa đất số 114. Sau khi phát hiện sự việc, ngày 01/07/2015, cụ Ngô Thị H5 đã khởi kiện bà Nguyễn Thị Bạch H1 về việc “tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đến Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, các bên đã tự thỏa thuận với nhau về phương án giải quyết vụ án. Cụ thể, vào ngày 08/10/2016, bà Nguyễn Thị Bạch H1, ông Nguyễn Huy H6 (chồng bà H1) và cụ Ngô Thị H5 đã tự nguyện lập Văn bản thỏa thuận có nội dung như sau:
“Bà Nguyễn Thị Bạch H1 thừa nhận trong tổng diện tích đất 618,8m² (số liệu đo đạc thực tế thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính số 246 do Chi nhánh Văn phòng đất đai thị xã C2 cung cấp ngày 01/7/2016) thuộc thửa đất số 117, tờ bản đồ 29, tọa lạc tại tổ D, khu phố B, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 03750 do UBND huyện T cấp ngày 28/5/2013 đứng tên bà Nguyễn Thị Bạch H1 thì thực chất bà Nguyễn Thị Bạch H1 chỉ có quyền sử dụng đất đối với 421,9m² (gồm 250m² đất ODT và 171,9m² đất CLN) được ký hiệu A3 trên sơ đồ bên dưới đây là tài sản của bà Nguyễn Thị Bạch H1, còn phần đất có diện tích 119,3m² (trong đó có 50m² đất ODT, 69,3m² đất CLN) ký hiệu A1 trên sơ đồ dưới đây là tài sản của bà Ngô Thị H5 và phần đất có diện tích 77,6m² loại đất CLN ký hiệu A2 trên sơ đồ dưới đây là tài sản của bà Hồ Thị H7.
Bà Ngô Thị H5, ông Nguyễn Huy H6, bà Hồ Thị H7 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 thỏa thuận thống nhất để cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 tiếp tục đại diện đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CH03750 do UBND huyện T cấp ngày 28/5/2013 đối với phần đất 618,8m² (diện tích theo GCN QSDĐ là 681m²) thuộc thửa đất số 117, tờ bản đồ 29 tọa lạc tại tổ D, khu phố B, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Khi nào Nhà nước có chính sách hoặc pháp luật có quy định cho phép tách thửa, sang tên để mỗi người đều được đứng tên trên mỗi phần đất ký hiệu A1, A2, A3 trên sơ đồ dưới đây của mình thì bà Nguyễn Thị Bạch H1 cam kết sẽ thực hiện thủ tục tách thửa sang tên cho bà Ngô Thị H5, bà Hồ Thị H7 mà không đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất nào ...”.
Đồng thời, theo Văn bản thỏa thuận và cam kết (bổ sung) về tài sản gắn liền trên đất ngày 21/11/2016 giữa bà Nguyễn Thị Bạch H1, ông Nguyễn Huy H6 (chồng bà H1) và cụ Ngô Thị H5 thì:
“Bà Nguyễn Thị Bạch H1 đồng ý để cho bà Ngô Thị H5 và ông Nguyễn Huy H6 được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt căn nhà cấp 4 (nhà tình nghĩa) có diện tích 46,8m² gắn liền với phần đất có diện tích 119,3m² thuộc thửa đất 117, tờ bản đồ 29 tọa lạc tại tổ D, khu phố B, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Bà H1 cam kết không tranh chấp hay ngăn cản gì trong việc bà H5, ông H6 quản lý, sử dụng, định đoạt căn nhà và phần đất nêu trên..”
Sau khi các bên xác lập văn bản nêu trên, cụ Ngô Thị H5 vẫn tiếp tục trực tiếp quản lý và sử dụng diện tích đất 119,3m² thuộc thửa đất 117, tờ bản đồ 29 tọa lạc tại tổ D, khu phố B, phường K, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương và căn nhà cấp 4 có diện tích 46,8m² gắn liền với đất cho đến khi chết.
Ngày 11/05/2019, cụ Ngô Thị H5 chết không để lại di chúc. Khi những người thừa kế của cụ Ngô Thị H5 thực hiện thủ tục để phân chia di sản do cụ H5 chết để lại thì phát hiện bà Nguyễn Thị Bạch H1 đã có hành vi gian dối, vi phạm các thỏa thuận nêu trên. Bà H1 đã âm thầm lập hợp đồng tặng cho phần đất có diện tích 119,3m² (đo đạc thực tế lại là 107m²) thuộc một phần thửa đất 117, tờ bản đồ 29 tọa lạc tại tổ D, khu phố B, phường K, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương với số thửa đất mới là 1082 cho con trai là ông Nguyễn Trường C,
được Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 5661, quyển số 10/2017- TP/CC- SCC/HĐGD ngày 09/10/2017. Ngày 16/11/2017, ông Nguyễn Trường C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ: CS 09614, số phát hành CK372170 đối với thửa đất 1082, tờ bản đồ 29, diện tích 107m².
Đến ngày 18/09/2018, Nhà nước thu hồi 8,54m² đất của ông Nguyễn Trường C để mở rộng đường ĐH-406; diện tích đất còn lại của thửa đất số 1082 là 98,46m². Tuy ông Nguyễn Trường C đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trên thực tế bà Nguyễn Thị N là người quản lý, sử dụng đất và căn nhà tình nghĩa để thờ cúng cụ Ngô Thị H5.
Nhận thấy những hành vi nêu trên của bà Nguyễn Thị Bạch H1, Nguyễn Trường C là trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị N và các đồng thừa kế khác của cụ Ngô Thị H5.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị N khởi kiện bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 5661, quyển số 10/2017- TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/10/2017 giữa bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C đối với thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương vô hiệu.
- Xác định quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế 100,8m² thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và căn nhà cấp 4 có diện tích 46,8m² gắn liền với thửa đất số 1082 là di sản thừa kế do cụ Ngô Thị H5 chết để lại.
- Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế 100,8m² thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và căn nhà cấp 4 có diện tích 46,8m² gắn liền với thửa đất số 1082 theo quy định của pháp luật thành 04 kỷ phần bằng nhau cho 04 đồng thừa kế của cụ Ngô Thị H5, cho bà Nguyễn Thị N được nhận toàn bộ di sản nêu trên bằng hiện vật, bà N đồng ý bồi hoàn phần giá trị di sản mà các đồng thừa kế khác của cụ H5 được chia.
- Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS09614, số phát hành CK372170 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2017 cho ông Nguyễn Trường C để bà N được kê khai, đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này.
- Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 0996, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2013 giữa bà Ngô Thị H5 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 vô hiệu một phần đối với diện tích đất 107m² thuộc thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương do có đối tượng không thể thực
hiện được và trước khi chết bà Ngô Thị H5 đã thay đổi ý chí tặng cho, đã khởi kiện bà Nguyễn Thị Bạch H1 đòi lại diện tích đất này và các bên đã ký văn bản thừa nhận, thỏa thuận vào các ngày 08/10/2016, 21/11/2016.
- Xác định số tiền bồi thường 38.812.250 đồng từ việc Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên thu hồi diện tích đất 8,54m² và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Quyết định số 4050/QĐ-UBND ngày 01/8/2018 của Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên là di sản thừa kế do cụ Ngô Thị H5 chết để lại.
- Chia thừa kế theo pháp luật số tiền bồi thường 38.812.250 đồng thành 04 phần bằng nhau cho 04 đồng thừa kế, đồng thời buộc ông Nguyễn Trường C phải thanh toán lại cho bà N phần thừa kế mà bà N được hưởng trong số tiền bồi thường 38.812.250 đồng là 9.703.000 đồng.
Đối với tài sản trên diện tích đất bị thu hồi 8,54m² thuộc thửa đất 1082, tờ bản đồ 29 gồm: sân bê tông xi măng, ống bê tông cốt thép đúc ly dài 1.000mm là tài sản do cụ Ngô Thị H5 tạo lập.
Bà N đồng ý Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024 và kết quả định giá tại Biên bản định giá lập ngày 25/7/2024.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch H1 trình bày:
Cha mẹ cụ H5 đã chết, không biết rõ họ tên và chết vào thời gian nào. Cha mẹ cụ H5 có 02 người con gồm: Ngô Thị H5 và Ngô Thị D.
Cụ Ngô Thị D chết năm 2015. Cụ D có chồng là Liệt sĩ và không có con.
Cụ Ngô Thị H5 có chồng là ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1933, chết trước năm 1975, không có giấy chứng tử.
Cụ Ngô Thị H5 và cụ Nguyễn Văn D1 có 04 người con chung gồm:
- Ông Nguyễn Huy H6, sinh năm 1960, chết năm 2022. Ông Nguyễn Huy H6 có vợ là bà Nguyễn Thị Bạch H1, sinh năm 1965. Ông Nguyễn Huy H6 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 có 02 người con chung gồm: Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh năm 1987 và Nguyễn Trường C, sinh năm 1991. Ngoài ra ông H6 không có con riêng hay con nuôi nào khác.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963;
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1964;
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971.
Ngoài ra, cụ H5 và cụ D1 không có con riêng hay con nuôi nào khác.
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 98,46m² (đo đạc thực tế 100,8m²) thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29 là của vợ chồng cụ Ngô Thị H5 để lại và sau này ông Nguyễn Huy H6 khai phá. Sau khi chồng cụ H5 chết thì cụ H5 được Ủy
ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00950 QSDĐ/TU ngày 17/5/1999 với diện tích 2.138m² thuộc thửa số 117, 114, tờ bản đồ số 29. Năm 2013, cụ H5 cho bà H1 toàn bộ phần đất nêu trên theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 15/3/2013 được công chứng tại Văn phòng C4. Vì vậy đến ngày 28/5/2013, bà H1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 152383, diện tích 620m² thuộc thửa số 114, tờ bản đồ số 29 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 152383, diện tích 681m² thuộc thửa số 117, tờ bản đồ số 29. Năm 2015, bà H1 chuyển nhượng thửa đất số 114 cho người khác và lấy tiền chia đều cho cụ H5 và các đồng thừa kế của cụ H5.
Năm 2015, bà H1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Huy H6 thì cụ H5 và ông H6 yêu cầu bà H1 phải trả lại toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 117. Do đó ngày 08/10/2016, bà H1, cụ H5 và bà H7 đã ký tên vào văn bản thỏa thuận và cam kết thống nhất là để cho cụ H5 diện tích đất 119,3m², bà Hồ Thị H7 diện tích đất 77,6m², còn bà H1 được hưởng diện tích đất 421,9m² thuộc thửa số 117, tờ bản đồ số 29; cụ H5 và ông H6 được toàn quyền quản lý, sử dụng căn nhà tình nghĩa trên diện tích đất 119,3m². Sau đó, bà H1 nói cụ H5 và ông H6 làm thủ tục tách thửa sang tên đối với diện tích đất nêu trên nhưng cụ H5 và ông H6 nói để lại cho con là Nguyễn Trường C. Do vậy, năm 2017, bà H1 tặng cho con là Nguyễn Trường C diện tích đất 107m² thuộc một phần của thửa đất số 117 và ngày 16/11/2017, ông C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 372170 có diện tích 107m² thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29. Cùng ngày 16/11/2017, bà H1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 372171 với diện tích còn lại 514m² thuộc thửa số 1081, tờ bản đồ số 29. Lúc bà H1 tặng cho ông C đất thì cụ H5 và ông H6 sống trên phần đất tranh chấp, còn bà N cũng sống trên phần đất sát bên cạnh phần đất tranh chấp. Khi ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H1 có đưa giấy chứng nhận quyền sử đất cho cụ H5, ông H6 và các con của cụ H5 là bà N, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H2 xem nhưng không ai có ý kiến gì.
Trên phần đất tranh chấp có 01 căn nhà tình nghĩa của cụ Ngô Thị D và 01 căn nhà tạm, trong đó có mái tole là do bà H1 dựng; còn vách tole, mái che, cửa cuốn là do ông S dựng.
Đối với phần đất bị Nhà nước thu hồi 8,54m² thuộc thửa đất 1082, tờ bản đồ 29 là đất của ông Nguyễn Trường C; còn tài sản trên phần đất bị thu hồi gồm: sân bê tông xi măng, ống bê tông cốt thép đúc ly dài 1.000mm là tài sản của bà Nguyễn Thị Bạch H1. Sau khi nhận số tiền bồi thường 38.812.250 đồng về thì ông C đã đưa toàn bộ số tiền nêu trên cho ông Nguyễn Huy H6.
Từ những lý do nêu trên, bà H1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N. Bà H1 đồng ý Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024 và kết quả định giá theo Biên bản định giá lập ngày 25/7/2024. Bà H1 xác định diện tích đất tranh chấp theo ranh bà H1 chỉ là 108,7m².
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Trường C trình bày: thống nhất ý kiến của bà Nguyễn Thị Bạch H1; đồng ý Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024 và kết quả định giá theo Biên bản định giá lập ngày 25/7/2024.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3 trình bày: thống nhất ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N; đồng ý Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024 và kết quả định giá theo Biên bản định giá lập ngày 25/7/2024.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N1 trình bày: thống nhất ý kiến của bà Nguyễn Thị Bạch H1.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Dũng S trình bày: thống nhất ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N. Đối với tài sản của ông S có trên đất tranh chấp là vách bằng tole, mái che bằng tole và cửa sắt; trường hợp Tòa án tuyên giao đất cho người khác thì ông S không yêu cầu bồi hoàn giá trị. Ông S đồng ý Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024 và kết quả định giá theo Biên bản định giá lập ngày 25/7/2024.
* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N2 trình bày: thống nhất ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N; đồng ý Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024 và kết quả định giá theo Biên bản định giá lập ngày 25/7/2024.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B do ông Võ Phi H4 là người đại diện theo ủy quyền trình bày ý kiến tại Công văn số 2246/CNTU-ĐK ngày 12/7/2024:
Thửa đất số 1082 (được tách từ thửa đất số 117), tờ bản đồ số 27 có nguồn gốc sử dụng đất là do nhận tặng cho. Căn cứ hồ sơ đăng ký biến động, ông Nguyễn Trường C nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị Bạch H1 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 5661, quyển số 10/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/10/2017 do Công chứng viên Văn phòng C3 chứng nhận. Căn cứ hồ sơ đăng ký biến động và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trường C, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký cấp Giấy chứng nhận số CK 372170, số vào sổ CS09614 ngày 16/11/2017 cho ông Nguyễn Trường C tại thửa đất số 1082 được tách từ thửa đất số 117, tờ bản đồ số 29 với diện tích sau khi biến động 98,5m² gồm đất ở (ODT) 60m² và đất trồng cây lâu
năm (CLN) 38,5m² thuộc HLATĐB tọa lạc tại phường K. Trình tự, thủ tục thực hiện hồ sơ đăng ký biến động do nhận tặng cho quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng quy định theo các Điều 75, 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 17 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 và Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T1; các Điều 15 và 21 Quyết định số 22/2017/QĐ-UBND ngày 30/8/2017. Khi tiến hành đo đạc thì chủ sử dụng đất tự cắm mốc vá xác định ranh giới thửa đất, không có sự chứng kiến của các chủ đất giáp ranh; kết quả đo đạc được thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính số 841 ngày 09/10/2017. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Trường C và nguyên nhân chênh lệch diện tích đất giữa diện tích đo đạc theo hiện trạng so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T do ông Nguyễn Tấn L là người đại diện theo ủy quyền trình bày ý kiến tại Công văn số 1899/PTNMT-ĐĐ ngày 30/7/2024 và Biên bản xác minh ngày 04/9/2024:
Ngày 16/7/2001, Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên ban hành Quyết định số 754/2001/QĐ-CT cấp nhà tình nghĩa cho cụ Ngô Thị D (là vợ liệt sĩ Trương Văn Q) trên thửa đất số 117 (nay là thửa 1080), tờ bản đồ số 29 tại ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Bình Dương là dựa trên đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) K và Trưởng Phòng Lao động thương binh xã hội huyện (nay là thành phố) Tân Uyên. Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế phần đất và căn nhà tình nghĩa của cụ Ngô Thị D gắn liền với đất thì Ủy ban đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
* Tại Biên bản định giá tài sản lập ngày 25/7/2024 thể hiện:
Đất ở có giá 12.000.000 đồng/m² x 60m² = 720.000.000 đồng.
Đất trồng cây lâu năm có giá 7.000.000 đồng/m² x 40,8m² = 285.600.000 đồng.
01 nhà tạm bằng tole có giá: 1.472.000 đồng/m² x 70% giá còn lại x 23,3m² = 24.008.320 đồng.
01 nhà cấp 4 (nhà tình nghĩa) có giá: 3.489.000 đồng/m² x 60% giá trị còn lại = 2.093.400 đồng/m² x 46,8m² = 97.971.120 đồng.
Mái che (1) có giá: 504.000 đồng/m² x 70% giá trị còn lại = 352.800 đồng/m² x 24,8m² = 8.749.440 đồng.
Mái che (2) có giá: 504.000 đồng/m² x 70% giá trị còn lại = 352.800 đồng/m² x 2,5m² = 882.000 đồng.
Tại phiên toà:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu K trình bày ý kiến: đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy căn nhà tạm có một số công trình do nguyên đơn dựng nhưng do giá trị căn
nhà không lớn nên nguyên đơn đồng ý thanh toán cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 toàn bộ giá trị căn nhà tạm là 24.008.320 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch H1 trình bày ý kiến: cụ H5 đã tặng cho bà H1 toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa số 114 và 117 tờ bản đồ số 29 nên bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H1 và cụ H5 ký tên vào các Văn bản thỏa thuận ngày 08/10/2016 và ngày 21/11/2016 là do bị áp lực từ phía ông H6, không trên cơ sở tự nguyện; ý chí của bà H1 tại các văn bản thỏa thuận là đồng ý cho cụ H5 và ông H6 ở tại căn nhà tình nghĩa, không phải cho quyền sử dụng đất. Thời điểm bà H1 tặng cho ông Nguyễn Trường C đất thì cụ H5 và ông H6 sống trên đất, đều đồng ý tặng cho ông C đất; các con của cụ H5 cũng biết nhưng không ai có ý kiến phản đối. Do đó, bà H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà N.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên trình bày ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án:
Các đương sự thống nhất về quan hệ nhân thân, hàng thừa kế thứ nhất của cụ H5. Bị đơn thừa nhận chữ ký và chữ viết trong Văn bản thỏa thuận ngày 08/10/2016 và Văn bản thỏa thuận và cam kết (bổ sung) về tài sản gắn liền trên đất ngày 21/11/2016 do bị đơn ký và viết ra, là tình tiết không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn cho rằng nguồn gốc thửa đất tranh chấp 1082, tờ bản đồ 29 do chồng bị đơn ông H6 khai phá từ những năm 2000, tuy nhiên theo hồ sơ cung cấp thông tin thì thửa đất tranh chấp 1082 được tách ra từ thửa 117 và nguồn gốc đất do cụ H5 khai hoang từ trước năm 1975 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 17/5/1999. Vì thế lời trình bày của bị đơn là không phù hợp.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 0996, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2013 giữa cụ Ngô Thị H5 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 vô hiệu một phần đối với diện tích đất 107m² thuộc thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương do có đối tượng không thể thực hiện được và trước khi chết cụ Ngô Thị H5 đã thay đổi ý chí tặng cho, đã khởi kiện bà Nguyễn Thị Bạch H1 đòi lại diện tích đất này và các bên đã ký văn bản thừa nhận, thỏa thuận vào các ngày 08/10/2016, 21/11/2016.
Xét thấy, hợp đồng tặng cho nêu trên được các đương sự thực hiện năm 2013 thời điểm này cụ Ngô Thị D đang sống trên căn nhà tình nghĩa trên đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho cụ D theo Quyết định số 754/2001/QĐ-CT ngày 16/7/2001. Các bên cũng không có thỏa thuận về việc bà H1 được cụ H5 hay cụ D tặng cho căn nhà tình nghĩa này. Do đó việc cụ H5 định đoạt luôn phần căn nhà trên đất là tài sản của cụ D cho bà H1 là trái quy định của pháp luật. Mặt khác, đến năm 2015 khi bà H1 và ông H6 ly hôn thì cụ H5 đã yêu cầu bà H1 phải trả lại nhà đất và giữa các bên đã tiến hành lập Văn bản thỏa thuận ngày 08/10/2016 và Văn bản thỏa thuận và cam kết (bổ sung) về tài sản gắn liền trên đất ngày 21/11/2016. Nếu thực tế có sự việc cụ H5 tặng cho bà H1 các thửa đất trên không điều kiện thì tại sao đến năm 2015 cụ H5 lại yêu cầu bà H1 trả đất và bà H1 lại đồng ý và thống nhất xác lập nội dung về việc “phần đất có diện tích 119,3m² (trong đó có 50m² đất ODT, 69,3m² đất CLN) ký hiệu A1 trên sơ đồ bên dưới đây là tài sản của bà Ngô Thị H5 ...
Bà Ngô Thị H5, ông Nguyễn Huy H6, bà Hồ Thị H7 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 thỏa thuận thống nhất để cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 tiếp tục đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ... Khi nào nhà nước có chính sách hoặc pháp luật có quy định cho phép tách thửa, sang tên để mỗi người đều được đứng tên trên mỗi phần đất ký hiệu A1, A2, A3 trên sơ đồ dưới đây của mình thì bà Nguyễn Thị Bạch H1 cam kết sẽ thực hiện thủ tục tách thửa sang tên cho bà Ngô Thị H5, Hồ Thị H7 mà không đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất nào ...”.
Đồng thời, theo Văn bản thỏa thuận và cam kết (bổ sung) về tài sản gắn liền trên đất ngày 21/11/2016 thì bà H1 đồng ý để cho cụ H5 và ông H6 được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt căn nhà tình nghĩa có diện tích 46,8m² gắn liền với phần đất có diện tích 119,3m² thuộc thửa đất 117, cam kết không tranh chấp hay ngăn cản gì trong việc bà H5, ông H6 quản lý, sử dụng, định đoạt căn nhà và phần đất nêu trên.
Bị đơn cho rằng có ký tên vào các Văn bản thỏa thuận trên nhưng bị ép buộc và không rõ nội dung văn bản là gì. Lời khai của bị đơn là mâu thuẫn vì chính bị đơn khai nhận trong quá trình giải quyết vụ án rằng khi lập các Văn bản thỏa thuận trên thì có được phía cụ H5 đọc lại nội dung và đưa cho bà ký tên đầu tiên vào văn bản, bị đơn cũng không có chứng cứ chứng minh bị ép buộc ký các Văn bản trên. Do đó lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Từ các phân tích trên xét thấy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất năm 2013 giữa cụ H5 và bà H1 bị vô hiệu một phần do có đối tượng không thể thực hiện theo Điều 408 Bộ luật Dân sự. Do hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/3/2013 giữa cụ H5 và bà H1 vô hiệu đối với phần diện tích đất thuộc thửa 1082 nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H1 và ông C cũng bị vô hiệu theo quy định. Vì thế nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 15/3/2013 giữa cụ H5 và bà H1 vô hiệu một phần và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H1 và ông C lập ngày 09/10/2017 vô hiệu là có căn cứ chấp nhận.
Năm 2018, Nhà nước tiến hành thu hồi diện tích 8,54m² thuộc thửa 1082 cấp cho ông C và bồi thường số tiền về đất và công trình trên đất là 38.812.250 đồng. Theo Phiếu chi ngày 30/8/2018 của Trung tâm P (nay là thành phố) Tân Uyên thì ông C là người nhận tiền. Bị đơn cho rằng các công trình bồi thường trên đất là do bị đơn xây dựng và sau khi nhận tiền bồi thường ông C đã đưa tiền cho ông H6 nhưng không có chứng cứ chứng minh. Mặt khác, phần diện tích đất bị thu hồi theo Văn bản thỏa thuận giữa các đương sự thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của cụ H5 nên cũng không có cơ sở xác định tài sản trên đất được bồi thường do bị đơn tạo lập. Ông C xác định cho ông Trần Dũng S thuê ki ốt sửa xe trên đất nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh việc cho thuê.
Như đã trình bày ở trên, nhà tình nghĩa là tài sản của cụ D, cụ D chết năm 2015, cha mẹ và chồng cụ D đã chết trước cụ D, cụ D không có con nên căn nhà trên sẽ được chia cho cụ H5 theo quy định về thừa kế. Do đó, thửa đất 1082 diện tích đo đạc thực tế 100,8m² và căn nhà tình nghĩa trên đất được xác định là di sản do cụ H5 chết để lại chưa chia nên việc nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đối với các tài sản trên là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Hàng thừa kế cụ H5 gồm ông H6 (đã chết – ông C thừa kế), bà N, bà H3, bà H2 nên di sản thừa kế gồm nhà, đất và tiền bồi thường về đất sẽ được chia làm 04 phần.
Nguyên đơn yêu cầu nhận nhà đất và bồi hoàn giá trị cho các đồng thừa kế khác đồng thời kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C để cấp lại cho nguyên đơn. Xét thấy, bị đơn ông C thừa nhận ông không còn sống trên nhà đất tranh chấp từ năm 2019, chỉ thỉnh thoảng về quét dọn, thăm nhà. Bà N là con cụ H8 và ở gần nhà đất tranh chấp nên việc trông coi, quản lý di sản và thờ cúng ông bà sẽ thuận tiện và phù hợp hơn. Do đó cần giao nhà đất là di sản thừa kế cho bà N quản lý, sử dụng. Bà N có trách nhiệm bồi hoàn giá trị kỳ phần thừa kế tương ứng cho các đồng thừa kế còn lại theo quy định.
Đối với tài sản do ông Trần Dũng S tạo lập trên đất tranh chấp, ông S không yêu cầu các đồng thừa kế bồi hoàn giá trị tài sản nên không xem xét giải quyết. Đối với phần mái hiên do bà H1 xây dựng thì buộc bà N có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị cho bà H1 theo định giá của Tòa án.
Vì các lẽ trên căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; các Điều 408, 131, 649, 650 và 660 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Bà Nguyễn Thị N khởi kiện bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C yêu cầu Tòa án chia di sản của cha mẹ là cụ Ngô Thị H5 chết để lại và
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo quy định tại các khoản 5 và 11 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C có địa chỉ tại: tổ F, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ và có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung vụ án:
Ngày 17/5/2019, cụ Ngô Thị H5 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 236770 với diện tích 2.138m² thuộc thửa số 114, 117 tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ngày 15/3/2013, cụ H5 tặng cho bà H1 toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên và bà H1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2015, cụ H5 khởi kiện yêu cầu bà H1 trả lại quyền sử dụng đất nên bà H1 đã đồng ý trả lại cho cụ H5 toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa số 114 và diện tích đất 119,3m² thuộc một phần thửa số 117 (thể hiện tại các Văn bản thỏa thuận ngày 08/10/2016 và ngày 21/11/2016). Tuy nhiên, ngày 09/10/2017, bà H1 lại tặng cho con là ông Nguyễn Trường C diện tích đất đã phân chia cho cụ H1 là 119,3m² (đo đạc là 107m²) và ngày 16/11/2017, ông Nguyễn Trường C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 107m² thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29. Do đó, nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu tuyên bố 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Ngô Thị H5 và bà Nguyễn Thị Bạch H1, giữa bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C vô hiệu; chia di sản của cụ H5 chết để lại là diện tích đất đo đạc thực tế 100,8m² thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29; 01 căn nhà tình nghĩa gắn liền với đất và số tiền bồi thường là 38.812.250 đồng thành 04 kỷ phần bằng nhau cho 04 đồng thừa kế của cụ H5.
[5] Nguyên đơn yêu cầu Tòa án sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế 100,8m² theo ranh do nguyên đơn chỉ dẫn tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bạch H1 yêu cầu Tòa án sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế 108,7m² theo ranh do bị đơn chỉ dẫn tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024.
Hội đồng xét xử xét thấy: ngày 16/11/2017, ông Nguyễn Trường C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 372170 với diện tích 107m² thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29. Năm 2018, Nhà nước thu hồi diện tích đất 8,54m² nên diện tích đất còn lại của thửa số 1082 là 98,46m² (bút lục 187-178). Sau khi xem xét số liệu các cạnh, diện tích đất, hình thể thửa đất số 1082 tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C2 lập ngày 05/6/2024, nhận thấy số liệu và hình thể thửa đất theo sự chỉ ranh của nguyên đơn là phù hợp với số liệu và hình thể thửa đất tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy số liệu có chênh lệch nhưng chênh lệch ít hơn so với số liệu do bị đơn bà H1 chỉ ranh và chênh lệch trong phạm vi sai số cho phép, không làm thay đổi hình thể thửa đất. Căn cứ vào Điều 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sử dụng số liệu đo đạc do nguyên đơn chỉ ranh là 100,8m² để làm căn cứ giải quyết vụ án.
[6] Về thời điểm mở thừa kế:
Cụ Nguyễn Văn D1 chết trước năm 1975, cụ Ngô Thị H5 chết năm 2019 nên thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ D1 là trước năm 1975, của cụ H5 là năm 2019 theo quy định tại khoản 1 Điều 611 của Bộ luật Dân sự.
[7] Về thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự quy định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với bất động sản là 30 năm. Ngày 20/9/2023, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là còn trong thời hiệu khởi kiện đối với di sản của cụ H5.
[8] Về hàng thừa kế của cụ Ngô Thị H5:
Các đương sự thống nhất xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Ngô Thị H5 gồm 04 người: Nguyễn Huy H6, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H3, là tình tiết không phải chứng minh theo khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào các Điều 611, 613, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ H5 theo Tờ tường trình phù hợp với tờ tường trình về quan hệ nhân thân được Ủy ban nhân dân phường K xác nhận ngày 18/9/2023 là phù hợp với quy định pháp luật.
[9] Đối với yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 0996, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2013 giữa bà Ngô Thị H5 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 vô hiệu một phần:
Xét thấy quyền sử dụng đất có diện 2.138m² thuộc thửa số 117, 114, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương là thuộc quyền sở hữu của cụ Ngô Thị H5 (đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 236770 Ngày 17/5/1999). Do đó, cụ H5 đã định đoạt tài sản bằng cách tặng cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 (con dâu) toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên vào 15/3/2013 là hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 195, 196 của Bộ luật
Dân sự năm 2005 và các Điều 167, 168 của Luật Đất đai năm 2013. Việc cụ H5 tặng cho bà H1 đất là trên cơ sở tự nguyện, được Văn phòng C4, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD (bút lục 115); thời điểm tặng cho đất cụ H5 có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật. Do đó, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ H5 và bà H1 là có hiệu lực pháp luật theo quy định tại các Điều 122, 124, 196 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013.
Tại thời điểm tặng cho đất, trên đất có căn nhà tình nghĩa của cụ Ngô Thị D (em ruột của cụ H5) được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp theo Quyết định số 754/2001/QĐ- CT ngày 16/7/2001 (bút lục 102) và cụ D đang sinh sống trên căn nhà. Tuy nhiên, căn nhà của cụ D là do cụ H5 cho xây dựng nhờ trên đất của cụ H5; việc cụ H5 tặng cho bà H1 đất không làm mất quyền sở hữu căn nhà của cụ D nên không vi phạm Điều 411 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Do đó, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 0996, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2013 giữa bà Ngô Thị H5 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 vô hiệu một phần là không có cơ sở chấp nhận.
[10] Đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 5661, quyển số 10/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/10/2017 giữa bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C vô hiệu:
Xét thấy, ngày 28/05/2013, bà Nguyễn Thị Bạch H1 được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 03750 đối với thửa đất số 117 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 03751 đối với thửa đất số 114. Tuy nhiên, vào các ngày 08/10/2016, 21/11/2016, bà H1 đã ký văn bản thỏa thuận đồng ý trả lại cho cụ H5 toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa số 114 và diện tích đất 119,3m² thuộc một phần thửa số 117 (hiện là phần đất tranh chấp) nên quyền sở hữu của bà H1 đối với tài sản nêu trên không còn theo quy định tại Điều 195 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Ngày 09/10/2017 bà H1 tặng cho ông Nguyễn Trường C diện tích đất 119,3m² (diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 107m²) thuộc một phần thửa số 117 của cụ H5 trái quy định pháp luật, có đối tượng không thực hiện được. Do đó, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 5661, quyển số 10/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/10/2017 giữa bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C đối với thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
[11] Về di sản thừa kế:
[11.1] Đối với quyền sử dụng đất:
Xét thấy, năm 2015 khi bà H1 và ông H6 ly hôn thì cụ H5 đã khởi kiện bà H1 về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu bà H1 trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa số 114, 117 và bà H1 đồng ý trả lại bằng
cách giữa cụ Ngô Thị H5, ông Nguyễn Huy H6, bà Hồ Thị H7 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 thống nhất lập 02 Văn bản thỏa thuận vào các ngày 08/10/2016, 21/11/2016 với nội dung:
Đối với thửa đất số 114: bà H1 đồng ý trả lại diện tích đất 620m² thuộc thửa số 114 cho cụ H5.
Đối với thửa đất số 117: tài sản của cụ Ngô Thị H5 là phần đất có diện tích 119,3m² (trong đó có 50m² đất ODT, 69,3m² đất CLN), hiện là phần đất tranh chấp. Các bên thỏa thuận để bà Nguyễn Thị Bạch H1 tiếp tục đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi nào nhà nước có chính sách hoặc pháp luật có quy định cho phép tách thửa, sang tên thì bà Nguyễn Thị Bạch H1 sẽ thực hiện thủ tục tách thửa sang tên cho bà Ngô Thị H5. Đồng thời, bà H1 đồng ý để cho cụ H5 và ông H6 được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt căn nhà tình nghĩa có diện tích 46,8m² gắn liền với phần đất có diện tích 119,3m² thuộc thửa đất 117.
Sau khi ký 02 văn bản thỏa thuận nêu trên, cụ H5 đã xác lập quyền sở hữu, định đoạt đối với tài sản bằng cách đồng ý cho bà H1 chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa số 114 và bà H1 giao lại tiền cho cụ H5; cụ H5 và ông H6 tiếp tục quản lý, sử dụng, sinh sống tại căn nhà tình nghĩa trên diện tích đất 119,3m² thuộc một phần thửa 117 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông C là diện tích 107m² thuộc thửa số 1082) cho đến khi chết; còn bà H1 không sống cùng với cụ H5, mà sống tại căn nhà riêng của bà H1 thuộc một phần thửa 117; phù hợp với xác nhận của Ủy ban nhân dân phường K tại Công văn số 1781/UBND-KT ngày 14/8/2024. Quyền sở hữu, định đoạt tài sản của cụ H5 tiếp tục được bà H1 khẳng định tại Biên bản hòa giải ngày 11/7/2024: “Bà H1 nói cụ H5 và ông H6 làm thủ tục tách thửa sang tên đối với diện tích đất thỏa thuận 119,3m² nhưng cụ H5 và ông H6 nói để lại cho con là Nguyễn Trường C” (bút lục 225).
Bị đơn bà H1 cho rằng có ký tên vào 02 Văn bản thỏa thuận trên nhưng bị ép buộc và không rõ nội dung của văn bản thỏa thuận. Lời khai tại phiên tòa của bà H1 hoàn toàn mâu thuẫn với lời khai trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện tại Biên bản lấy lời khai ngày 09/11/2023, bà H1 xác định sau khi soạn văn bản xong đã được nghe đọc lại nội dung; bà H1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh bị ép buộc ký tên vào các Văn bản trên và được cụ H5, ông Hoàng T cho ông Nguyễn Trường C diện tích đất 119,3m².
Từ những căn cứ và phân tích nêu trên, có cơ sở xác định diện tích đất 107m² (đo đạc thực tế là 100,8m²) thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29 được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trường C là thuộc quyền sở hữu và là di sản của cụ H5 theo quy định tại các Điều 221, 223 và 612 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[11.2] Đối với căn nhà tình nghĩa:
Trên diện tích đất đo đạc thực tế 100,8m² thuộc thửa số 1082 có 01 căn nhà tình nghĩa của cụ Ngô Thị D được Ủy ban nhân dân huyện T cấp theo Quyết định số 754/2001/QĐ- CT ngày 16/7/2001 (do cụ H5 đồng ý cho xây nhà) nên theo quy định tại các Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 1995, căn nhà tình nghĩa thuộc quyền sở hữu của cụ D.
Các đương sự thống nhất xác định, cụ D chết năm 2015, cha mẹ và chồng của cụ D đã chết trước cụ D, cụ D không có con; cha mẹ cụ D có 02 người con là cụ H5 và cụ D nên được xem là tình tiết không phải chứng minh theo khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ H5 chết năm 2019 là chết sau cụ D nên cụ H5 là người thuộc hàng thừa kế thứ 2 của cụ D và được hưởng di sản của cụ D theo quy định tại 613 và điểm b khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, căn nhà tình nghĩa là di sản của cụ H5 theo quy định tại Điều 612 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[11.3] Đối với tiền bồi thường:
Năm 2018, Nhà nước thu hồi diện tích đất 8,54m² thuộc một phần thửa số 1082 cấp cho ông C và bồi thường số tiền về đất và công trình trên đất là 38.812.250 đồng; diện tích đất còn lại của thửa 1082 là 98,46m². Xét thấy, theo Văn bản thỏa thuận ngày 08/10/2016 thì diện tích đất bị thu hồi thuộc quyền quản lý, sử dụng của cụ H5. Tuy ông Nguyễn Trường C là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cụ H5 là người trực tiếp quản lý, sử dụng và sinh sống trên diện tích đất bị thu hồi; còn bà H1 sống tại căn nhà riêng của bà gần căn nhà tình nghĩa. Do đó, bà H1 cho rằng các công trình trên diện tích đất bị thu hồi do bà xây dựng là không có cơ sở và bà H1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Vì vậy, có căn cứ xác định số tiền bồi thường 38.812.250 đồng là di sản của cụ H5 theo quy định tại Điều 612 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo Phiếu chi ngày 30/8/2018 của Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã T thì ông C là người nhận tiền bồi thường. Ông C không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã đưa tiền bồi thường cho cha là ông H6 nên ông C phải thanh toán lại tiền bồi thường cho các đồng thừa kế của cụ H5.
[11.4] Từ những căn cứ và phân tích nêu tại mục [10.1], [10.2] và [10.3], có cơ sở xác định diện tích đất đo đạc thực tế 100,8m² (trị giá 1.005.600.000 đồng) và 01 căn nhà tình nghĩa diện tích 46,8m² (trị giá 97.971.120 đồng) thuộc thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; số tiền bồi thường 38.812.250 đồng là di sản do cụ H5 chết để lại.
Do cụ H5 chết không để lại di chúc nên nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật là có căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[12] Về công sức quản lý, tôn tạo di sản:
Sau khi ly hôn với ông H6 vào năm 2015, bà H1 không sống chung với cụ H5, mà sống tại căn nhà riêng của bà H1; ông H6 là người sống cùng và là người trực tiếp chăm sóc cụ H5 lúc tuổi cao. Năm 2019 cụ H5 chết, bà H1 bán
căn nhà riêng và cùng với con là ông Nguyễn Trường C chuyển về sinh sống tại địa chỉ: tổ F, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; thỉnh thoảng mới về quét dọn, thắp hương cho cụ H5. Mặt khác, bà H1 cũng đã được cụ H5 tặng cho một phần đất thuộc thửa số 117 gắn liền căn nhà của bà H1 (theo Văn bản thỏa thuận ngày 08/10/2016). Do đó không có căn cứ để tính công sức đóng góp cho bà H1 đối với di sản của cụ H5.
[13] Về cách chia thừa kế: di sản của cụ H5 được chia thành 04 kỷ phần bằng nhau cho 04 đồng thừa kế gồm: ông Nguyễn Huy H6 (do con là Nguyễn Trường C và Nguyết Thị Tuyết N3 nhận), Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H3. Cụ thể:
Đối với đất: mỗi đồng thừa kế được chia mỗi kỷ phần 25,2m² đất (tương đương số tiền 251.400.000 đồng).
Đối với căn nhà tình nghĩa: mỗi đồng thừa kế được chia mỗi kỷ phần tương đương số tiền 24.492.780 đồng.
Đối với tiền bồi thường: mỗi đồng thừa kế được chia số tiền 9.703.062,5 đồng.
Bà Nguyễn Thị H2 và bà Nguyễn Thị H3 tự nguyện giao kỷ phần thừa kế mà các bà được chia cho bà Nguyễn Thị N nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, bà Nguyễn Thị N được chia: tổng diện tích đất 75,6m² (tương đương số tiền 786.750.000 đồng); giá trị căn nhà tình nghĩa với tổng số tiền 73.487.340 đồng; tiền bồi thường 29.109.187,5 đồng.
Theo Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND ngày 15/5/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh B thì diện tích đất tranh chấp 100,8m² thuộc thửa số 1082 không đủ điều kiện tách thửa. Nhận thấy, bà Nguyễn Thị N được nhận ¼ kỷ phần thừa kế; sau khi ông H6 chết (năm 2022), bà N là người trực tiếp thờ cúng cụ H5 và ở gần nhà, đất tranh chấp nên việc trông coi, quản lý di sản và thờ cúng ông bà sẽ thuận tiện và phù hợp hơn. Do đó cần giao nhà, đất là di sản thừa kế cho bà N quản lý, sử dụng. Bà N có trách nhiệm bồi hoàn cho ông Nguyễn Trường C và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 giá trị 01 kỷ phần thừa kế là 286.742.780 đồng theo quy định tại Điều 660 của Bộ luật Dân sự. Ông Nguyễn Trường C có trách nhiệm thanh toán tiền bồi thường cho bà Nguyễn Thị N là 29.109.187,5 đồng và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 là 4.851.531,25 đồng.
[14] Đối với căn nhà tạm bằng tole trên thửa đất số 1082 có giá trị 24.008.320 đồng:
Xét thấy, bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Trần Dũng S thống nhất xác định mái tole là do bà H1 dựng; các tài sản còn lại như vách tole, cửa sắt, mái che có diện tích 24,8m² là do ông Trần Dũng S dựng. Ông S không yêu cầu các đồng thừa kế của cụ H5 bồi hoàn giá trị đối với tài sản do ông tạo lập trên đất và bà Nguyễn Thị N đồng ý thanh toán toàn bộ giá trị căn nhà tạm cho bà H1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[15] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là phù hợp một phần.
[16] Về chi phí tố tụng: các đương sự phải chịu theo quy định tại Điều 157 và 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[17] Về án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 180, 227, 228, 235, 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 131, 221, 223, 408, 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 1995;
Căn cứ các Điều 122, 124, 195 và 196 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ các Điều 106, 166, 167 và 168 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” và “tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”:
1.1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 5661, quyển số 10/2017-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/10/2017 giữa bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C đối với thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương vô hiệu.
1.2. Xác định diện tích đất 100,8m² (trong đó có 60m² đất ở, 40,8m² đất trồng cây lâu năm) và 01 căn nhà tình nghĩa có diện tích 46,8m² thuộc thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương là di sản thừa kế của cụ Ngô Thị H5, có trị giá 1.103.571.120 đồng.
1.3. Xác định số tiền bồi thường 38.812.250 đồng đối với phần đất và tài sản trên đất bị thu hồi có diện tích 8,54m² (thuộc một phần thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương) là di sản thừa kế của cụ Ngô Thị H5.
1.4. Chia di sản thừa kế của cụ Ngô Thị H5 để lại như sau:
Bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị H3, ông Nguyễn Trường C và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 (thừa kế của ông Nguyễn Huy H6) được chia mỗi kỷ phần tương đương số tiền 285.595.842,5 đồng.
Ghi nhận sự nguyện của bà Nguyễn Thị H2 và bà Nguyễn Thị H3 về việc cho bà Nguyễn Thị N hưởng kỷ phần thừa kế của bà H2 và bà H3.
Chia cho bà Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế 100,8m²; trong đó: đất ở 60m², đất trồng cây lâu năm 40,8m² (có 55,8m² đất hành lang an toàn đường bộ), 01 căn nhà tình nghĩa có diện tích 46,8m², 01 căn nhà tạm có diện tích 23,3m² và toàn bộ tài sản khác có trên đất thuộc thửa số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương được giới hạn bởi các điểm A, B, C, D (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Trường C và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 số tiền 275.892.780 đồng (trị giá 01 kỷ phần đất và nhà).
Ông Nguyễn Trường C có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị N số tiền bồi thường 29.109.187,5 đồng (03 kỷ phần) và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 số tiền bồi thường 4.851.531 đồng (1/2 kỷ phần).
Bà Nguyễn Thị N có có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Bạch H1 số tiền 24.008.320 đồng (trị giá căn nhà tạm).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
1.5. Bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia.
1.6. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 372170 ngày 16/11/2017 cấp cho ông Nguyễn Trường C.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng C4 (nay là Văn phòng C1) chứng nhận số công chứng 0996, quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/3/2013 giữa bà Ngô Thị H5 và bà Nguyễn Thị Bạch H1 vô hiệu một phần đối với diện tích đất 107m² thuộc thửa đất số 1082, tờ bản đồ số 29 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương vô hiệu.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản là 10.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C mỗi người phải chịu số tiền 5.000.000 đồng. Do bà Nguyễn Thị N đã nộp xong nên bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C mỗi người phải trả lại cho bà Nguyễn Thị N só tiền 5.000.000 đồng.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị N được miễn tiền án phí. Trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí 5.300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0008207 ngày 17/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Bà Nguyễn Thị Bạch H1 và ông Nguyễn Trường C phải liên đới chịu số tiền 300.000 đồng.
Ông Nguyễn Trường C và bà Nguyễn Thị Tuyết N1 phải liên đới chịu số tiền 14.279.792 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 133/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Số bản án: 133/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRanh chấp thừa kế tài sản và tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
