|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/DS-PT
Ngày 21 tháng 6 năm 2024
V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản"
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang và ông Nguyễn Việt Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Vân Anh- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS- ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 103/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/QĐ-PT ngày 23/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 218/TB-TA ngày 14/5/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Công T: Ông Trần Công T1 và ông Nguyễn Văn L- Luật sư, văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số A Khu B, TDP E, Phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
*Bị đơn: Ông Hoàng Văn L1, sinh năm 1948. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn (ông Hoàng Văn L1): Bà Hoàng Thị Bích L2- Luật sư thuộc Văn phòng L6 và cộng sự- Đoàn luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số I, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
Luật sư Hoàng Mạnh L3- Luật sư Công ty TNHH M1- Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ:
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị B, sinh năm 1953; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
- Bà Đỗ Thị Bích N, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đình K, sinh năm 1948 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A E T, phường D, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S, huyện T, tỉnh Nghệ An
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Công T và bị đơn ông Hoàng Văn L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Công T trình bày:
Ông T và ông Hoàng Văn L1 có quan hệ quen biết, vào ngày 17/11/2017 (Âm lịch)- tức ngày 03/01/2018 (Dương L4) ông T có cho ông Hoàng Văn L1 vay số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay 10 ngày (ngày 27/11/2017- âm lịch, tức ngày 13/01/2018- Dương lịch) ông L1 phải trả ông T hết số tiền đã vay. Ông T chỉ cho ông L1 vay tiền còn ông L1 vay tiền về làm gì ông T không nắm được. Sau khi cho ông L1 vay tiền, ông T có thông báo cho bà B vợ ông L1 được biết thông qua tin nhắn điện thoại và bà B cho rằng bà không biết sự việc này. Khi vay có viết giấy biên nhận vay tiền. Hết hạn trả tiền ông T có đòi ông L1 trả tiền nhưng ông L1 không trả. Nay ông T yêu cầu ông L1 phải trả ông T số tiền gốc vay 1.400.000.000₫ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 14/01/2018 (Dương lịch) cho đến khi xét xử xong theo lãi suất 10%/1 năm. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì khác nữa.
Trước khi ông L1 vay ông T số tiền 1.400.000.000₫ vào ngày 03/01/2018 thì ông L1 đã vay tiền của ông T nhiều lần, lần vay đầu tiên là trước ngày 03/01/2018 khoảng 4 năm, mục đích vay là để đáo hạn ngân hàng do Phòng khám đa khoa vay ngân hàng đến hạn trả nợ và lúc đó do ông L1 làm Phó Giám đốc của phòng khám chịu trách nhiệm quản lý tài chính, khi thì hỏi vay để trả nợ cho con, lúc thì vay để ông L1 trả nợ tiền ghi lô đề nợ. Số tiền vay trước đó thì ông T cho ông L1 vay mã lớn nhất là 4 tỷ đồng, mã nhỏ nhất khoảng hơn 100 triệu đồng. Các lần vay này thì ông L1 đã trả đầy đủ số tiền vay, không còn nợ ông T số tiền nào, giấy vay khi ông L1 trả tiền xong thì ông T cũng trả lại giấy vay cho ông L1.
Việc ông L1 trình bày, số tiền 1.400.000.000đ ông L1 ký nhận nợ tại giấy vay ngày 17/11/2017 (âm lịch) là do ông L1 nhận nợ thay ông K tiền mua bán nhà giữa ông T và vợ chồng ông K, bà T2 là không đúng. Vì số tiền 1.400.000.000₫ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) ông L1 vay ông T ngày 17/11/2017 (Âm lịch), tức ngày 03/01/2018 (D) là ông L1 vay của ông T trước khi có việc ông K, bà T2 viết giấy nhận nợ mua nhà đất của ông T nên không có việc ông L1 ký nhận nợ tiền mua nhà thay cho ông K, bà T2 như ông L1 trình bày. Khi ông K, bà T2 và ông T ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất xong, ông K, bà T2 không thanh toán trả cho ông T ngay số tiền mua nhà đất của ông T, do vợ chồng ông K, bà T2 là bạn của ông L1 nên ông T đồng ý cho ông K, bà T2 nợ toàn bộ tiền mua nhà đất và ký nhận nợ với ông T số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) vào ngày 23/11/2017 (âm lịch) hai bên thỏa thuận miệng về lãi suất là 1.000đ/1 triệu đồng/1 ngày, nhưng sau đó khoảng vài tháng ông K mới thanh toán tiền lãi trả cho ông T được 02 lần là 90 triệu đồng, còn lại chưa thanh toán cho ông T số tiền nào khác. Ông T đã đòi tiền ông K, bà T2 nhiều lần nhưng ông K, bà T2 không trả ông T được thêm số tiền nào. Từ trước tới nay ông T chưa bao giờ làm đơn tố cáo ông K và ông L1 đến Văn phòng cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B như ông L1 trình bày tại Tòa án. Việc ông L1 cung cấp cho Tòa án đơn tố cáo đề ngày 10/6/2018, xác định người làm đơn là ông T là không đúng sự thật, đơn đó không phải do ông T viết, chữ ký phô tô ông T cũng không biết là của ai, ông T không ký vào đơn tố cáo nào như ông L1 cung cấp cho Tòa án.
Ông T xác định việc ông K, bà T2 nợ tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) của ông T là việc khác, không liên quan đến việc ông L1 vay tiền của ông T đến nay vẫn còn nợ 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), vì giấy vay tiền giữa ông L1 với ông T và giữa ông T và vợ chồng bà T2, ông K hoàn toàn độc lập, không có liên quan gì với nhau nên việc ông lịch trình bày khi ông K ký nhận nợ với ông T số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) vào ngày 23/11/2017 (Âm lịch), thì ông L1 có yêu cầu ông T xé bỏ giấy vay nợ ngày 17/11/2017 (Âm lịch) số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) mà ông L1 ký nhận nợ tiền vay của ông T, ông T nói đã xé bỏ đi rồi là không đúng sự thật, vì hai khoản vay nợ của ông L1 và ông K là khác nhau, không có liên quan gì với nhau.
Ông L1 có cung cấp cho Tòa án một số tin nhắn và xác định đó là các tin nhắn do ông T nhắn tin cho ông L1 có nội dung liên quan đến việc ông L1, ông K ký giấy vay nợ với ông T là không đúng, các tin nhắn này không biết ở thời gian nào và do ai nhắn tin cho ông L1. ông T đã đọc các tin nhắn này và ông T khẳng định không phải do ông T nhắn tin cho ông L1 như ông L1 cung cấp nội dung tin nhắn cho Tòa án.
Bị đơn ông Hoàng Văn L1 trình bày:
Do có quan hệ quen biết với ông Nguyễn Công T và vợ chồng ông Nguyễn Đình K, bà Nguyễn Thị T2, vào khoảng cuối năm 2017 ông K, bà T2 có nhu cầu mua nhà cho con trai. Ông L1 có giới thiệu ông K gặp ông T và thỏa thuận mua bán nhà đất với giá 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Sau đó ông K, bà T2 và ông T, bà N đến văn phòng C để làm thủ tục chuyển nhượng sang tên cho anh Nguyễn Bình M (con trai ông K, bà T2) nên hợp đồng chuyển nhượng là do anh M ký với ông T, bà N. Sau khi anh M và ông T, bà N ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhà đất xong thì ông T nhờ ông L1 làm các thủ tục tiếp theo để sang tên thửa đất nhà cho anh Nguyễn Bình M là con trai ông K. Khi ông L1 đi làm thủ tục sang tên cho anh M thì ông T có đưa cho ông L1 giấy biên nhận vay nợ ghi ngày 17/11/2017 (Âm lịch) tức ngày 03/01/2018 (dương lịch) do ông T chuẩn bị sẵn từ trước, ông T nói “vợ chồng bà T2, ông K không có ở đây nên anh ký cho em một chữ” vào giấy biên nhận vay tiền mà ông T đã viết sẵn với nội dung ông L1 nhận nợ với ông T số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), ông T nói khi nào ông bà K - T2 ra trả tiền thì ông T sẽ hủy tờ giấy này đi và nếu ông K trả đủ tiền mua nhà của ông T thì ông T biếu ông L1 100 triệu đồng, ông L1 có nói là “thôi, anh em giúp nhau thôi”. Do tin tưởng nên ông L1 đã đồng ý ký vào giấy biên nhận vay tiền ngày 17/11/2017 (Âm lịch) tức ngày 03/01/2018 (dương lịch). Đến ngày 23/11/2017 (Âm lịch) ông K, bà T2 cùng lái xe của ông K đến nhà ông T viết giấy nhận nợ số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) còn nợ tiền mua nhà của ông T, lúc đó không có mặt ông L1 ở đó. Sau khi ông K, bà T2 ở nhà ông T về thì ông T điện cho ông L1 thông báo việc ông K, bà T2 đến nhưng ông T không tin ông K mà chỉ tin bà T2 nên ông T đã cho vợ chồng ông K nợ tiền nhà rồi. Lúc đó ông L1 bảo với ông T là giữ cho ông L1 cái giấy ông L1 ký nhận nợ với ông T 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) ngày 17/11/2017 (âm lịch) để ông L1 đến lấy lại nhưng ông T nói đã hủy giấy vay này đi rồi và nói “em với anh làm gì phải thế”. Sau đó ông L1 thấy ông T có viết 01 giấy viết tay nội dung đã nhận đủ tiền nhà của anh Nguyễn Bình M (con trai ông K), sau này ông L1 mới biết là Ngân hàng yêu cầu ông K khi đến vay tiền thì phải có giấy này thì Ngân hàng mới cho ông K vay tiền, còn cụ thể như thế nào thì ông L1 không biết. Đến tháng 6 năm 2018 ông T có đưa tay cho ông L1 01 đơn tố cáo (bản phô tô) tố cáo ông L1 và ông K nên ông L1 mới biết ông T vẫn còn giữ giấy nhận nợ mà ông L1 ký nhận nợ của ông T số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) ngày 17/11/2017 (Âm lịch). Sau đó Cơ quan điều tra Công an tỉnh B có triệu tập ông L1 đến làm việc, ông L1 khai báo nguyên văn như ông L1 đã trình bày ở trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã mời ông K về làm việc, ông K đã trả thêm cho ông T 01 tháng lãi là 45 triệu đồng và hẹn thời gian trả nợ là đến tháng 11/2018 trả hết cả gốc và lãi tiền ông K mua nhà của ông T còn nợ. Sau đó hai bên làm việc
với nhau như thế nào nữa thì ông L1 không biết. Đến tết âm lịch năm 2020-2021 thì ông K, bà T2 đến nhà ông T đề nghị trả ông T nhà đất đã mua và trả thêm 100 triệu đồng cho ông T, nhưng ông T không đồng ý, việc này ông L1 không chứng kiến trực tiếp nhưng ông T có nhắn tin cho ông L1 như vậy. Sau đó ông K, bà T2 bị bắt tạm giam về việc thực hiện dự án khu đô thị T, ông L1 có nói với ông T làm đơn tố cáo gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tố cáo ông K còn nợ tiền nhà của ông T nhưng khi Công an N mời ông T vào đối chất với ông K thì ông T không vào và định ủy quyền cho ông L1 nhưng do dịch bệnh nên đã không thực hiện được. Ông T có nghe thấy anh em Công an trong Nghệ An nói ông K nợ nhiều tiền thì lấy đâu mà trả nợ. Sau đó ông T có nói với ông L1 đã bán giấy ông L1 ký nhận nợ của ông T cho Công ty mua bán nợ, ông T có nhắn tin cho ông L1 nói có mấy người ở Nghệ An và Hà Nội đến đòi nợ ông L1. Khi những người này đến ông L1 đã trình bày với họ là không lấy tiền của ông T, chỉ giúp ông T, tin ông T nên mới ký vào giấy nhận nợ đó và những người đòi nợ này không đến đòi tiền ông L1 nữa. Đến đầu năm 2022 ông T có gửi thư đòi nợ ông L1, ông L1 có trả lời là “khoản tiền đấy chú biết tôi không lấy tiền của chú nên tôi không trả chú, chú hợp tác với tôi để đòi ông K”. Vì vậy, ông T đã lấy giấy ông L1 nhận nợ số tiền 1.400.000.000đ nêu trên làm căn cứ khởi kiện ông L1 tại Tòa án và Tòa án đã báo gọi ông L1 lên làm việc.
Sự thật ông L1 chỉ ký nhận nợ với ông T chứ không được cầm tiền 1.400.000.000đ, lý do như ông L1 đã trình bày ở trên.
Giấy nhận nợ mà ông L1 ký đề ngày 17/11/2017 (Âm lịch) chắc chắn là ông L1 ký cho ông T sau ngày ông T và anh M ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất tại Văn phòng C. Vì sau khi hai bên ký kết xong hợp đồng chuyển nhượng, ông T nhờ ông L1 làm thủ tục tiếp theo để sang tên sổ đỏ cho anh M và ngày 17/11/2017 (Âm lịch) ông T đã yêu cầu ông L1 ký nhận nợ giấy vay 1.400.000.000₫.
Việc ông L1 ký nhận nợ bà B vợ ông L1 không được biết và không liên quan đến sự việc này.
Nay ông T yêu cầu ông L1 phải trả ông T số tiền gốc vay 1.400.000.000₫ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 14/01/2018 (Dương lịch) cho đến khi xét xử xong theo lãi suất 10%/1 năm, ông L1 không đồng ý trả số tiền trên vì ông L1 không vay mượn tiền của ông T, không được cầm tiền của ông T và khi ông T cho ông K nợ ông T cũng không nói cho ông L1 biết, sau đó mới nói là tin bà Thu K1 nên mới cho bà Thu n nợ và lấy lãi trước 45.000.000đ/1 tháng. Trong lời trình bày của ông K1, bà T2 có trong hồ sơ vụ án thì ông K1, bà T2 nói “khoản tiền ông T đòi ông L1 thì ông K1 đã ký nhận nợ và ông K1, bà T2 sẽ trả ông T theo lãi suất quy định” nên ông L1 đề nghị ông T hợp tác với ông L1 để đòi tiền ông K1.
Các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của ông L1 ở trên là đúng thì ông L1 đã giao nộp cho Tòa án toàn bộ những gì ông L1 lưu giữ được đến nay, nếu ông L1 thu thập được gì thêm ông L1 sẽ nộp cho Tòa án tiếp.
Ông L1 khẳng định 02 khoản nợ trong giấy nhận nợ mà ông K1 ký nhận nợ với ông T ngày 23/11/2017 (âm lịch) và ông L1 ký nhận nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) với ông T là một, không phải là hai khoản nợ riêng rẽ, như ông K1 đã nói là ông K1 sẽ trả cho ông T.
Trước ngày 17/11/2017 (âm lịch) ông L1 có vay tiền của ông T nhưng đều là vay hộ người khác, khi vay có người vay đi cùng, vì ông T không tin họ, chỉ tin tưởng ông L1 và đến nay đã trả đầy đủ cho ông T.
Tại phiên tòa, ông L1 xác định thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vay tài sản đã hết nên đề nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu của hợp đồng để giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình K, bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Ông L1 là người làm trong công ty M2 cùng với ông K, bà T2. Ông K, bà T2 biết ông Nguyễn Công T thông qua ông L1. Vợ chồng ông K, bà T2 có mua nhà đất của ông Nguyễn Công T cho con trai ông, bà là anh Nguyễn Bình M tại khu vực thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với giá 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Về thủ tục công chứng chuyển nhượng thửa đất hai bên có tiến hành, do ông K, bà T2 không đi cùng nên ông K, bà T2 không biết cụ thể ông L1 hay con trai ông K, bà T2 trực tiếp đi công chứng với ông T. Thời gian, địa điểm công chứng ông K, bà T2 cũng không nắm rõ. Vào ngày 23/11/2017, vợ chồng ông K, bà T2 có đến nhà ông T, bà N viết giấy ký nhận nợ và xác nhận vợ chồng ông K, bà T2 có nợ ông T số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng), đồng thời có trả cho ông T số tiền lãi 45.000.000₫ (Bốn mươi lăm triệu đồng). Hiện nay, giấy nhận nợ ông T là người cất giữ. Vợ chồng ông K, bà T2 không biết đến việc ông L1 viết giấy nợ đứng ra nhận nợ số tiền trên.
Nay ông T yêu cầu ông L1 trả số tiền trên cùng với lãi suất 20%/năm thì ông K, bà T2 có ý kiến như sau: Khoản vay này vợ chồng ông K, bà T2 đã đồng ý viết giấy nhận nợ thì vợ chồng ông K, bà T2 đồng ý trả nợ cho ông T số tiền nợ gốc 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) cùng với lãi suất theo quy định của pháp luật dân sự.
- Bà Đỗ Bích N trình bày: Bà N đồng ý như lời trình bày của ông Nguyễn Công T- chồng bà N. Tuy nhiên, bà N xác định khoản tiền 1.400.000.000đ ông T cho ông L1 vay là tài sản riêng của ông T, bà không có liên quan nên xin được vắng mặt tại tất cả các hoạt động tố tụng của vụ án này. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà N.
- Bà Trần Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và cũng không gửi ý kiến, văn bản đến Tòa án phản hồi về việc ông T có đơn khởi kiện ông L1.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Công T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T về việc buộc ông Hoàng Văn L1 phải trả ông T số tiền gốc vay 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 14/01/2018 (Dương lịch) cho đến khi xét xử xong theo lãi suất 10%/1 năm. Vì giấy biên nhận vay nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) thể hiện rõ việc ông L1 ký nhận vay của ông T số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Việc ông L1 trình bày số tiền 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) ông L1 ký nhận vay của ông T trong giấy vay nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) chỉ là nhận nợ thay số tiền vợ chồng ông K, bà Thu mua nhà của ông T và đã ký giấy nhận nợ vào ngày 23/11/2017 (âm lịch). Tuy nhiên, 02 giấy biên nhận vay nợ nêu trên nội dung thể hiện không có liên quan gì với nhau, ông L1 không đưa ra được chứng cứ cụ thể nào thể hiện việc ông L1 chỉ là người ký nhận nợ tiền mua nhà, đất thay cho ông K, bà T2. Về thời hiệu khởi kiện, ông T Và ông L1 ký kết hợp đồng vay ngày 17/11/2017 (âm lịch), thời hạn trả nợ là 10 ngày, đến ngày 18/5/2022 ông T đã có văn bản đòi nợ gửi cho ông L1 và ông L1 đã có văn bản trả lời ngày 21/5/2022, do đó thời hiệu khởi kiện được tính lại kể từ ngày 18/5/2022 nên xác định thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vay tài sản giữa ông T và ông L1 ngày 17/11/2017 (âm lịch) chưa hết thời hiệu theo Điều 429 của Bộ luật dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Văn L1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng quy định về thời hiệu của hợp đồng để giải quyết vụ án, vì thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vay tài sản đã hết theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự và ông L1 có yêu cầu Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu của hợp đồng để giải quyết vụ án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cũng đề nghị Tòa án không chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T về việc buộc ông Hoàng Văn L1 phải trả ông T số tiền gốc vay 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 14/01/2018 (Dương lịch) cho đến khi xét xử xong theo lãi suất 10%/1 năm. Vì 02 khoản nợ trong giấy nhận nợ mà ông K ký nhận nợ với ông T ngày 23/11/2017 (âm lịch) và ông L1 ký nhận nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) với ông T là một, không phải là hai khoản nợ riêng rẽ, lời trình bày của ông L1 về việc ký giấy nhận nợ ngày 17/11/2023 (âm lịch) cũng là ngày ông T và anh Nguyễn Bình M công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, số tiền ông L1 ký nhận nợ ông T cũng là 1,4 tỷ đồng là giá chuyển nhượng nhà đất của ông T chuyển nhượng cho ông K, bà T2. Ông L1 không vay mượn tiền của ông
T, không được cầm tiền của ông T. Trong lời trình bày của ông K, bà T2 có trong hồ sơ vụ án thì ông K, bà T2 nói “khoản tiền ông T đòi ông L1 thì ông K đã ký nhận nợ và ông K, bà T2 sẽ trả ông T theo lãi suất quy định”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Với nội dung trên, bản án dân sự số 73/2023/DS-ST ngày 31/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:
Căn cứ các Điều 275; 463, 466; 470; Điều 468; khoản 2 Điều 357; Điều 429; khoản 2 Điều 149, Điều 155 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228; Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công T.
Buộc ông Hoàng Văn L1 phải có nghĩa vụ thanh toán trả ông Nguyễn Công T số tiền gốc còn nợ là: 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Không chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của của ông Nguyễn Công T yêu cầu ông Hoàng Văn L1 phải trả tiền lãi 10%/năm cho ông T tính từ 14/01/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm do thời hiệu của hợp đồng đã hết và bị đơn đề nghị áp dụng về thời hiệu trước khi Tòa án ra bản án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21/11/2023, nguyên đơn – ông Nguyễn Công T làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn trả lãi suất cho ông.
Ngày 14/11/2023, bị đơn – ông Hoàng Văn L1 làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Ông không đồng ý với bản án sơ thẩm về việc buộc ông phải trả cho ông T số tiền gốc vay 1.400.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xử không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu của bị đơn. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn là ông L1 trình bày: Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T. Ông có nhiều lần vay tiền của ông T nhưng đã trả hết. Số tiền mỗi lần vay từ 200.000.000 đồng đến mấy tỷ đồng. Việc ông ký nhận giấy nhận nợ ngày
17/11/2017 là tự nguyện, không bị ép buộc gì. Ông K, bà T2 không nhờ ông ký nhận nợ. Ông không biết việc thanh toán nhà đất giữa ông K, bà T2 với ông T. Ông T nhờ ông ký nhận nợ số tiền 1.400.000.000 đồng tuy nhiên ông không có chứng cứ gì chứng minh việc ông T nhờ ký nhận nợ này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị xem xét áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công T và ông Hoàng Văn L1, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông T và ông L1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 73/2023/DS-ST ngày 31/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Miễn án phí DSPT cho ông T và ông L1 vì là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là ông Nguyễn Công T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là và Trần Thị B, bà Đỗ Thị Bích N, ông Nguyễn Đình K, bà Nguyễn Thị T2 đề nghị giải quyết vắng mặt. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2]. Xét kháng cáo của T, HĐXX thấy: Ông Nguyễn Công T kháng cáo yêu cầu ông Hoàng Văn L1 phải trả số tiền lãi chậm trả trên số tiền vay 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) tính từ ngày 18/5/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là 240.000.000 đồng thì thấy: Tại phiên toà sơ thẩm ông L1 đề nghị Tòa án áp dụng quy định về thời hiệu của hợp đồng để giải quyết vụ án do xác định thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vay tài sản đã hết. Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 429 của Bộ luật dân sự về thời hiện khởi kiện đối với hợp đồng được xác định là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đối với hợp đồng vay tài sản giữa ông T và ông L1 giao kết ngày 17/11/2017 (âm lịch- tức là ngày 03/01/2018), thời hạn trả tiền là 10 ngày. Kể từ ngày 14/01/2018 cho đến khi ông T khởi kiện, hai bên không có thỏa thuận lại về thời hạn trả nợ, đến ngày 18/7/2022 ông T mới có đơn khởi kiện đến Tòa án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T xác định hợp đồng
vay tài sản giữa ông L1 và ông T chưa hết thời hiệu khởi kiện vì ngày 18/5/2022 và ngày 30/5/2022 ông T có văn bản yêu cầu ông L1 trả tiền, ngày 21/5/2022 ông L1 cũng đã có văn bản trả lời nên thời hiện được tính lại vào ngày 30/5/2022. Như vậy, đây chỉ là yêu cầu đòi tài sản của ông T, ông L1 xác định không vay nên trả lời không đồng ý trả tiền, không phải là văn bản thỏa thuận nhận nợ giữa hai bên nên không được tính lại thời hiệu khởi kiện của hợp đồng, vì vậy hợp đồng vay tài sản giữa ông T và ông L1 ký ngày 17/11/2018 (âm lịch) đến ngày ông T có đơn khởi kiện (27/6/2022) đã hết thời hiệu khởi kiện của hợp đồng nên không được tính lãi của hợp đồng như bản án sơ thẩm xác định là có căn cứ cần chấp nhận.
Như vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T về việc buộc bị đơn phải trả tiền lãi của khoản vay 1.400.000.000 đồng.
[2]. Xét kháng cáo của ông L1, HĐXX thấy: Ngày 17/11/2017 (âm lịch) ông T có cho ông L1 vay số tiền 1.400.000.000 đồng, do là chỗ quen biết và đã vay nhiều lần nên ông T không hỏi ông L1 vay để làm gì, ông L1 đã ký vào giấy biên nhận vay tiền 1.400.000.000đ. Ông L1 xác định có ký vào giấy biên nhận vay tiền 17/11/2017 (âm lịch) ở mục người vay ký do ông T yêu cầu, nhưng là ký nhận nợ thay cho ông K, bà T2 tiền mua nhà của ông T khi ông L1 đi làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên ông T sang tên con ông K là anh Nguyễn Bình M. Sau đó đến ngày 23/11/2017 (âm lịch) khi vợ chồng ông K, bà T2 viết giấy nhận nợ tiền mua nhà đất của ông T, ông L1 yêu cầu ông T đưa lại giấy biên nhận vay nợ để ông L1 hủy đi nhưng ông T nói đã xé bỏ đi rồi, do tin tưởng ông T nên ông L1 không có ý kiến gì về việc này nữa. Bản án sơ thẩm nhận định giấy biên nhận vay nợ đề ngày 17/11/2017 (âm lịch) do ông L1 ký nhận nợ ông T số tiền 1.400.000.000 đồng và giấy biên nhận vay nợ đề ngày 23/11/2017 (âm lịch) do ông K ký nhận nợ ông T số tiền 1.400.000.000 đồng nội dung chỉ thể hiện ông L1 và ông K đã vay của ông T số tiền 1.400.000.000 đồng và ghi thời hạn trả nợ, ngoài ra không có nội dung nào thể hiện khoản nợ của ông K và khoản nợ của ông L1 có liên quan đến nhau. Ông K, bà T2 cũng trình bày không biết việc ông L1 viết giấy nhận nợ là số tiền ông K, bà Thu m nhà đất của ông T chưa trả cho ông T. Ông L1 cũng không đưa ra được chứng cứ cụ thể nào thể hiện việc giữa ông L1 và ông T có thỏa thuận ông L1 ký nhận nợ số tiền 1.400.000.000 đồng ngày 17/11/2017 (âm lịch) là tiền ông L1 nhận nợ thay ông K, bà T2 khi ông K, bà T2 còn nợ tiền mua nhà đất của ông T. Vì vây, không có căn cứ để xác định 02 khoản nợ trong giấy nhận nợ mà ông K ký nhận nợ với ông T ngày 23/11/2017 (âm lịch) và ông L1 ký nhận nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) với ông T là một như ông L1 trình bày. Giấy biên nhận vay nợ ông L1 ký nhận nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) với ông T. Ông L1 xác định người ký nhận nợ là ông L1, việc ông L1 ký nhận nợ là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối gì. Ông L1 trình bày ngày 10/6/2018 ông T có đơn tố cáo ông K và ông L1 đến Văn phòng cơ quan
cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, lúc đó ông L1 mới biết ông T vẫn còn giữ Giấy biên nhận vay nợ ông L1 ký nhận nợ ngày 17/11/2017 (âm lịch) với ông T nhưng ông L1 lại không có đề nghị gì đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết về việc này, cũng không có văn bản, yêu cầu cụ thể nào yêu cầu ông T hủy bỏ giấy biên nhận mà ông L1 ký nhận nợ với ông T khi ông L1 biết ông T vẫn còn lưu giữ giấy biên nhận nợ này.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 11 ngày 22/7/2023 và số 41 ngày 16/10/2023 đề nghị Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Phòng C1 Công an tỉnh B cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ liên quan đến việc ông T có đơn tố cáo ông L1 và ông K theo như lời trình bày của ông L1, tuy nhiên Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Phòng C1 Công an tỉnh B trả lời không tiếp nhận, phân loại xử lý, giải quyết đơn của ông T như lời trình bày của ông L1.
Vì vậy, có căn cứ xác định ông L1 còn nợ của ông T số tiền vay gốc 1.400.000.000 đồng, cần buộc ông L1 phải có trách nhiệm thanh toán trả ông T số tiền này. Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Hoàng Văn L1 phải có nghĩa vụ thanh toán trả ông Nguyễn Công T số tiền 1.400.000.000₫ là đúng.
Ông L1 kháng cáo bản án, không đồng ý về việc bản án buộc ông phải trả ông T số tiền 1.400.000.000 đồng là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 73/2023/DS- ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế.
Tuy nhiên bản án sơ thẩm có thiếu sót: Tòa án sơ thẩm thụ lý quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện và được chấp nhận thì quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định phải là “Tranh chấp kiện đòi tài sản”, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Công T và ông Hoàng Văn L1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do ông T và ông L1 đều là người cao tuổi nên được miễn án phí DSPT theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Công T và ông Hoàng Văn L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 73/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Công T và ông Hoàng Văn L1.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 133/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 133/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đồi tài sản
