Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 133/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 - 4 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

2. Bà Lê Thị Bích Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thư Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thanh Bình– Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1206/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4424/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lưu Tú L, sinh năm 1984

Địa chỉ: 2 C, Phường B, Quận F Tp .

Bị đơn: Ông Y, Chien Y1, sinh năm 1984

Hộ chiếu số: [...] do Trung Quốc (Đài Loan) cấp ngày 11/6/2018

Quốc tịch: Trung Quốc (Đài Loan) (T)

Địa chỉ: Số I, hẻm H, đường N, khóm E, phường P, khu T, thành phố T, Đài Loan (242).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2023 và lời khai của nguyên đơn – bà Lưu Tú L thì: Bà và bị đơn kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 169 do Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/11/2018. Sau khi kết hôn, bị đơn quay về nước. Tháng 6/2019 bà có qua Đài Loan ở 1 tháng thì quay về Việt Nam, từ đó tình cảm vợ chồng có nhiều thay đổi. Từ năm 2021, bà không liên lạc được với bị đơn, nhận thấy thời gian xa cách đã lâu, tình cảm không còn, không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Bà.

Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan, nơi bị đơn – ông Y, Chien Y cư trú để tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho ông Y, Chien Y1 và yêu cầu ông Y, Chien Y1 trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Tú L nhưng ông Y, Chien Y1 không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:Lưu Tú L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Y, Chien Y1 đang cư trú tại Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn – bà Lưu Tú L có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và xét xử vắng mặt; Tòa án đã lập hồ sơ ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai và thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn - ông Y, Chien Y1, nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 và Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Lưu Tú L và ông Y, Chien Y1.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 169 do Ủy ban nhân dân Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/11/2018 thì giữa bà Lưu Tú L và ông Y, Chien Y1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của bà Lưu Tú L sau khi kết hôn thì do khoảng cách địa lý cũng như tình hình dịch bệnh kéo dài nên giữa hai vợ chồng ít liên lạc qua lại, không còn sự quan tâm chia sẻ với nhau và từ năm 2021, nguyên đơn không liên lạc được với bị đơn. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lưu Tú L yêu cầu ly hôn ông Y, Chien Y1. Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã không có văn bản nêu ý kiến và cũng không đến Tòa án để đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ, cả hai hiện có khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng không tồn tại, đây là căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

[3] Từ những nhận định trên, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lưu Tú L .

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà Lưu Tú L khởi kiện yêu cầu ly hôn nên bà Lưu Tú L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điều 38; Khoản 4 Điều 147; Khoản 4 Điều 207; Khoản 1 Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 19 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Tú L .

    Về hôn nhân: Bà Lưu Tú L được ly hôn ông Y, Chien Y1.

    Về con chung: Không có.

    Về tài sản chung: Không có.

    Về nợ chung: Không có.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lưu Tú L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0001682 ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lưu Tú L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – Bà Lưu Tú L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án; bị đơn – ông Y, Chien Y1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự (02);
  • - Uỷ ban nhân dân Q. 6, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: HSVA, VT (HA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Lê Thị Bích Dung

Nguyễn Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 133/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger