|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 133/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 8 - 2023 V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Ngọc Cúc;
- Bà Trần Thanh Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Kiều Văn Liêu – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 318/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 332/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1983;
- Bị đơn: Ông Phan Minh T, sinh năm 1980;
Cư trú: số I, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang;
Địa chỉ liên lạc: số B, Tổ I, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Cư trú: số I, khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa bà L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: bà L và ông Phan Minh T tự nguyện quen biết tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào năm 2005. Vợ chồng sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Lý do mâu thuẫn: ông T không biết chăm lo cho gia đình, vợ con mà vẫn còn ham chơi cờ bạc, gây nợ nần, gia đình cứ phải gánh nợ đến nay đã kiệt quệ. Tôi đã nhiều lần khuyên can, cha mẹ chồng tôi nhiều lần khuyên can mà không được. Tôi đã cố gắng nhẫn nhịn, để hàn gắn gia đình mà không được. Vợ chồng bắt đầu ly thân hơn 03 năm nay. Đến nay thì không còn tình cảm gì nữa, nên tôi yêu cầu được ly hôn ông T.
- Về con chung: Bà L và ông T có 02 con chung là Phan Nguyễn Yến N, sinh năm 2006 và Phan Trí T1, sinh năm 2011. Sau khi ly hôn thì bà L không yêu cầu nuôi con, vấn đề cấp dưỡng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Minh T: không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ về việc giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng đương sự vắng mặt nên không thể hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa, Bà L vắng mặt và có đơn yêu cầu vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông T vắng mặt và không cung cấp thêm ý kiến, tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T mâu thuẫn trầm trọng, không thể tiếp tục thực hiện tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung: có 02 con chung là Phan Nguyễn Yến N, sinh năm 2006 và Phan Trí T1, sinh năm 2011; sau khi ly hôn bà L không yêu cầu nuôi con, việc cấp dưỡng sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết và tại biên bản ghi lời khai con chung, cháu N mong muốn được sống cùng cha, nhằm tạo điều kiện ổn định cuộc sống cho các cháu đề nghị giao các con chung cho ông T nuôi dưỡng.
Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị L và ông Phan Minh T kết hôn có đăng ký kết hôn; bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết vấn đề con chung, còn ông T là người có địa chỉ cư trú trên địa bàn thành phố L. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Bà L vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị L và ông Phan Minh T tự nguyện quen biết, tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Bà L kiên quyết xin ly hôn vì bà cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không còn tình cảm, ông T ham mê cờ bạc, gây nợ nần, gia đình nhiều lần khuyên can không được. Về phía ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt và không cung cấp ý kiến, điều này thể hiện ông T không có nguyện vọng đoàn tụ gia đình. Thực tế, ông T và bà L đã không còn chung sống cách đây hơn 03 năm. Bản thân bà L kiên quyết ly hôn. Xét thấy: Để cuộc sống gia đình hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được thì vợ chồng phải có tình cảm tự nguyện từ hai phía, chung thủy, tin tưởng, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nhưng bà L và ông T đều không thực hiện được những điều này để cuộc sống gia đình được hạnh phúc, hôn nhân bền vững, mục đích hôn nhân đạt được. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà L là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung và cấp dưỡng cho con chung: bà L xác định bà và ông T có hai con chung là Phan Nguyễn Yến N, sinh năm 2006 và Phan Trí T1, sinh năm 2011. Bà L không yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng cho con chung. Về phía ông T cũng không cung cấp ý kiến về vấn đề này. Xét thấy: cháu N và cháu T1 đều đang chung sống với gia đình ông T; cháu N thể hiện rõ nguyện vọng của cháu mong muốn được tiếp tục sống với cha sau khi cha mẹ ly hôn; còn cháu T1 thì tâm lý không ổn định, bà L yêu cầu Tòa án không tiến hành lấy lời khai của cháu. Vì vậy, cần ổn định việc nuôi con để tránh ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tinh thần của cháu N và cháu T1, tạo điều kiện cho các cháu phát triển bình thường. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu N và cháu
T1 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và không xem xét về vấn đề cấp dưỡng cho con chung.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. ông T cũng không cung cấp ý kiến về vấn đề này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề tài sản chung và nợ chung.
[4] Về án phí: bà L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 144; 147; 227; 228; 238; 266; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 19; 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 107; 110; 116; 117; 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Phan Minh T.
- Về con chung:
Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Minh T có có 02 con chung là Phan Nguyễn Yến N, sinh ngày 12 tháng 4 năm 2006 và Phan Trí T1, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2011.
Ông Phan Minh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom, giáo dục các cháu Phan Nguyễn Yến N và Phan Trí T1. Ông Phan Minh T và thành viên gia đình không được cản trở bà Nguyễn Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Phan Nguyễn Yến N và Phan Trí T1.
Người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có thể thay đổi theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001874 ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Giang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Ngô Thị Ngọc Cúc |
Trần Thanh Vân |
Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 133/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 133/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
