|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/DS-ST
Ngày: 19/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín
dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Hàn Nhựt Thái
- Ông: Trần Văn Hổ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Thanh Nhã – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (Tên viết tắt V).
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường L, Quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn R – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh B.
Địa chỉ: Số E, Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Tấn T1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng - Ngân hàng Thương mại Cổ phần N – Chi nhánh B.
Địa chỉ: Số E, Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
+ Bị đơn: - Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1977.
- Ông Đỗ Văn C1, sinh năm: 1977.
Cùng địa chỉ: Số 0.45.21, C, tổ B, khu phố B, phường L, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty Cổ phần K.
Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường T, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Quốc T2 – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Lê Uyên T3, sinh năm: 2001 – Địa chỉ: Số H N, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo uỷ quyền của ông T2.
Tại phiên toà: Ông T1 có mặt. Ông C1, bà C, bà T3 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/12/2023 của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn T1 trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phầN (viết tắt TMCP) Ngoại Thương Việt Nam với ông Đỗ Văn C1, bà Nguyễn Thị Kim C có ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 135/VCB/22CD ngày 02/6/2022: Số tiền cho vay: 4.060.000.000 đồng; Mục đích vay: Thanh toán tiền mua nhà tại Lô S (A1-23) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, Thành phố B, tỉnh Bến Tre; Thời hạn cho vay: 240 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay.
Lãi suất cho vay:
- Trong thời gian áp dụng lãi suất cố định: Áp dụng Chương trình cho vay “An tâm lãi suất 2022”, kỳ hạn cố định lãi suất là 24 tháng tính từ thời điểm giải ngân cho các khoản giải ngân thuộc hợp đồng cho vay dài hạn được ký kết và rút vốn trong thời gian triển khai Chương trình. Trường hợp Hợp đồng vay có nhiều lần giải ngân: khoản giải ngân trong tháng nào sẽ áp dụng theo mức lãi suất cố định của tháng đó. Lãi suất cho vay cố định trong vòng 24 tháng kể từ ngày giải ngân.
- Sau thời gian áp dụng lãi suất cố định: Áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãi cuối kỳ đối với Khách hàng cá nhân của Ngân hàng C2 (+) 4%/năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay dài hạn của sản phẩm cho vay mua, xây, sửa bất động sản tiêu dùng dành cho Khách hàng cá nhân theo sản phẩm chuẩn theo thông báo lãi suất cho vay VNĐ của Ngân hàng tại thời điểm đó. Kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần sau 24 tháng kể từ ngày giải ngân trong hiệu lực của Hợp đồng cho vay. Ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng thông qua phương thức: gọi điện thoại hoặc tin nhắn hoặc bằng văn bản khi có sự thay đổi về mức lãi suất đang áp dụng cho khách hàng.
- Trường hợp khoản vay chuyển nợ không đủ tiêu chuẩn (phân loại nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5): Áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay sau thời gian áp dụng lãi suất cố định. Kỳ điều chỉnh lãi suất là 03 tháng/lần trong hiệu lực của Hợp đồng cho vay. Ngân hàng sẽ thông báo cho khách hàng thông qua phương thức: gọi điện thoại hoặc tin nhắn hoặc bằng văn bản khi có sự thay đổi về mức lãi suất đang áp dụng cho khách hàng
Lãi suất cho vay trong hạn: 10,3%/năm, lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi phạt chậm trả: 10% số tiền lãi quá hạn.
Tài sản đảm bảo hợp đồng vay là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai giữa chủ đầu tư và khách hàng nên giữa Công ty Cổ phần K với ông Đỗ Văn C1, bà Nguyễn Thị Kim C cùng Ngân hàng TMCP N có ký kết Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 02/6/2022. Trên cơ sở thống nhất giữa các bên, ông C1, bà C có thế chấp cho Ngân hàng tài sản đảm là Quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số A1-23/HĐMBN-2022 ngày 15/4/2022 giữa Công ty Cổ phần K với bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1. Đặc điểm căn nhà: Loại nhà ở: Nhà phố, lô số: LK2-23 (A1-23), đường số: Đường N & đường D, số tầng: Trệt + 2 lầu, diện tích đất: 118m², diện tích xây dựng: 55m², tổng diện tích sàn xây dựng: 184 m², mục đích dùng để ở, thời gian sử dụng lâu dài, kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Các tài sản trên được mô tả theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 134/NHNT/TC22 ngày 02 tháng 6 năm 2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP N với bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 được công chứng tại Văn Phòng C3, địa chỉ: Số G, N, phường A, Thành phố B, tỉnh Bến Tre ngày 02/6/2022 và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/6/2022 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong qúa trình thực hiện hợp đồng, ông C1 và bà C đã rút số tiền vay là 3.765.000.000 đồng (theo giấy nhận nợ ngày 02/6/2022). Ông C1, bà C đã quá hạn thanh toán khoản vay theo hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 07/8/2023 và chuyển nợ nhóm 2 từ ngày 17/8/2023. Tính đến ngày 12/7/2024, tổng dư nợ gốc của ông C1, bà C (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại V là: 3.581.530.928 đồng.
V Chi nhánh B đã nhiều lần làm việc trực tiếp và/hoặc có văn bản yêu cầu bà C và ông C1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo các hợp đồng nhưng bà C và ông C1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng. Bà C và ông C1 cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ.
Nay V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
- Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V toàn bộ số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 19/8/2024 là: 3.606.389.469 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.421.396.328 đồng, lãi trong hạn: 11.810.848 đồng, lãi quá hạn: 169.086.212 đồng, lãi phạt chậm trả: 4.096.081 đồng.
- Tuyên buộc bà C và ông C1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 135/VCB/22CD ngày 02 tháng 06 năm 2022 kể từ ngày tiếp theo ngày 19/8/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc cho V.
- Trường hợp, bà C và ông C1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì V thông qua V Chi nhánh B có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà C và ông C1 theo hợp đồng bảo đảm là Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 134/NHNT/TC22 ngày 02 tháng 06 năm 2022 giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ như trên thì V có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà C và ông C1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 vắng mặt nhưng trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án có gửi đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông C1, bà C yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nơi cư trú của bị đơn để giải quyết theo thẩm quyền.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần K vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án là chưa đúng quy định tại Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 108, 295, 317, 318, 319, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 4, 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N; buộc bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 trả nợ vay theo hợp đồng vay vốn nêu trên số tiền gốc và tiền lãi đến ngày 19/8/2024 là: 3.606.389.469 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.421.396.328 đồng, lãi trong hạn: 11.810.848 đồng, lãi quá hạn: 169.086.212 đồng, lãi phạt chậm trả: 4.096.081 đồng. Đồng thời yêu cầu tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận từ ngày 20/8/2024 cho đến khi trả xong nợ.
- Trường hợp, bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận; căn vào thỏa thuận hợp tác ba bên, Ngân hàng được quyền yêu cầu ông C1, bà C và Công ty K giao tài sản để phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
- Án phí và chi phí tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe nguyên đơn phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 và người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần K, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng ông C1, bà C và người đại diện của Công ty Cổ phần K vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo luật định.
Tòa án đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 và người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Cổ phần K để đưa vụ án ra xét xử nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần N khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có văn bản lựa chọn Tòa án giải quyết theo nơi thực hiện hợp đồng là Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre và tại Điều 9 mục 9.3 của Hợp đồng ba bên ngày 02/6/2022, các bên có thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nơi Ngân hàng có trụ sở nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, việc ông C1, bà C yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân nơi cư trú của bị đơn để giải quyết theo thẩm quyền là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP N yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 trả số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 19/8/2024 là 3.606.389.469 đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi theo thoả thuận từ ngày 20/8/2024 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp, ông C1, bà C không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
[4] Bị đơn là ông C1, bà C và người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần K vắng mặt, không cung cấp chứng cứ hay phản đối yêu cầu của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả về việc không cung cấp chứng cứ theo Điều 96 của bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Căn cứ vào Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 135/VCB/22CD ngày 02/6/2022 giữa Ngân hàng TMCP N với bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông C1 và bà C vay số tiền: 3.765.000.000 đồng (theo giấy nhận nợ ngày 02/6/2022), thời hạn vay là 240 tháng, trả vốn và lãi vào ngày 05 hàng tháng nhưng ông C1, bà C không thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợp đồng vay từ ngày 07/8/2023. Ngân hàng đã thông báo, nhắc nhở nhiều lần nhưng ông C1, bà C vẫn không thực hiện việc trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, Ngân hàng thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu ông C1, bà C có nghĩa vụ chung trả nợ gốc và lãi đến ngày 19/8/2024 là: 3.606.389.469 đồng và tiếp tục trả lãi suất phát sinh theo thỏa thuận từ ngày 20/8/2024 đến khi trả xong nợ là có căn cứ. Theo bản chiết tính thu nợ vay của Ngân hàng về số tiền vốn vay, lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả lãi của các khoản tiền vay là chính xác, lãi suất vay hai bên thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[6] Xét, Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số: A1- 23/HĐMBN-2022 ngày 15/4/2022 giữa Công ty Cổ phần K với ông C1, bà C; Hợp đồng hợp tác ba bên ngày 02/6/2022 giữa Ngân hàng với ông C1, bà C và Công ty Cổ phần K đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 134/NHNT/TC22 ngày 02 tháng 6 năm 2022 được công chứng tại Văn phòng C3 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định tại Điều 4, 5 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông C1, bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Công ty cổ phần K vắng mặt và không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng. Cho nên Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là căn nhà theo Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số: A1-23/HĐMBN-2022 ngày 15/4/2022, tài sản căn nhà ký hiệu Nhà ở: Lô S (A1-23) giữa Công ty Cổ phần K và ông C1, bà C theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán số 134/NHNT/TC22 ngày 02 tháng 6 năm 2022 giữa Ngân hàng với ông C1, bà C là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Trường hợp, ông C1 và bà C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là căn nhà, ký hiệu Nhà ở: Lô S (A1- 23) của dự án Khu nhà ở S tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre để thu hồi nợ.
Do ông C1, bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận nên căn cứ vào thỏa thuận hợp tác ba bên, Ngân hàng được quyền yêu cầu ông C1, bà C và Công ty K giao tài sản để phát mãi thu hồi nợ.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Ngân hàng TMCP N không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 37.530.000 đồng theo biên lai thu số 0001012 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 có nghĩa vụ liên đới chịu án phí như sau: Số tiền phải trả là 3.606.389.469 đồng đồng = 72.000.000 đồng + 2% (1.606.389.469 đồng) = tính tròn chẳn là 104.127.000 đồng.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều Điều 108, 295, 299, 301, 303, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2019/NĐ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền vay vốn và tiền lãi tính đến ngày 19/8/2024 là: 3.606.389.469 đồng (Ba tỷ sáu trăm lẻ sáu triệu ba trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc: 3.421.396.328 đồng, lãi trong hạn: 11.810.848 đồng, lãi quá hạn: 169.086.212 đồng, lãi phạt chậm trả: 4.096.081 đồng.
- Buộc bà C và ông C1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 20/8/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 135/VCB/22CD ngày 02/6/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N với bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 cho đến khi trả xong nợ.
- Trường hợp, ông C1 và bà C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số 134/NHNT/TC22 ngày 02 tháng 6 năm 2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N với bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1. Cụ thể: Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai số: A1-23/HĐMBN-2022 ngày 15/4/2022 giữa Công ty Cổ phần K với ông C1, bà C. Đặc điểm căn nhà, ký hiệu: Lô số LK2-23 (A1-23), loại nhà ở: Nhà phố, đường số: Đường N & đường D, số tầng: Trệt + 2 lầu, diện tích đất: 118m², diện tích xây dựng: 55 m², tổng diện tích sàn xây dựng: 184 m², kết cấu nhà: Tường gạch, sàn BTCT theo quy hoạch nhà ở thương mại tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Công ty Cổ phần K có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần N trong việc xử lý tài sản thế chấp.
Trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông C1, bà C để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 37.530.000 đồng (Ba mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001012 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Đỗ Văn C1 có nghĩa vụ liên đới nộp số tiền án phí là 104.127.000 đồng (một trăm lẻ bốn triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, các đương sự vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thuý Hằng |
Bản án số 133/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 133/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP N và Nguyễn Thị Kim C, Đỗ Văn C
