Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM KỲ

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày 17 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Sơn
  2. Bà Trần Thị Đông

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Quý – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn P; giới tính: nam; tên gọi khác: không; Sinh ngày 12/02/1992, tại: thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12;Nghề nghiệp: lái xe; Nơi ĐKHKTT: Khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Con ông Lê Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1969) trú tại khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con út, bị cáo chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 15/8/2024 bị Trưởng công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 1.5000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/5/2024, chuyển tạm giam ngày 05/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Yến N1, sinh năm 1996; trú tại: khối phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Phan Huy T1, sinh năm 1992; trú tại: số A đường P, khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21 giờ 30 phút ngày 26/5/2024, Tổ công tác Công an phường A, thành phố T đến nhà Phan Huy T1 (sinh năm 1992) ở số A đường P, khối phố M, phường A, thành phố T để xác minh thông tin nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Khi lực lượng Công an vào nhà Phan Huy T1 thì thấy Lê Văn P đang ngồi trong phòng ngủ nói chuyện với T1. Lúc này, lực lượng Công an nhìn thấy P lấy trong túi quần bên trái mà P đang mặc ra một túi ni lông không màu bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng, rồi nhanh chóng cất giấu xuống bên dưới nệm giường ngủ. Qua làm việc, Lê Văn P thừa nhận túi ni lông không màu bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng trên là gói ma túy đá của P mang theo để sử dụng. Khi thấy lực lượng Công an, do hoảng sợ nên P đem cất giấu dưới nệm giường ngủ để không bị phát hiện. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn P về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Tang vật tạm giữ.

  • - 01 (một) túi ni lông không màu bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s, số IMEL: 013989000939883, không có sim;
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 92B1-373.55;
  • - Số tiền: 400.000 đồng.

Qua điều tra xác định được như sau:

Vào chiều ngày 26/5/2024, trên đường đi làm về, Lê Văn P điều khiển xe mô tô biển số 92B1-373.55 đến khu vực cầu R thuộc thành phố Đà Nẵng gặp và nhờ một người bạn quen biết ngoài xã hội tên H1 (không rõ lai lịch) mua giúp một gói ma túy đá với giá 700.000đ. Sau khi mua được ma túy, P điều khiển xe mô tô biển số 92B1-373.55 về thành phố T. Khi đến khu vực đường N, thành phố T, P mua một chai nước suối và đi đến một bãi đất trống (P không nhớ là khu vực nào) lấy một ít ma túy đá từ trong gói ma túy vừa mua được ra sử dụng bằng cách hút. Số ma túy còn lại P cất trong túi quần bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe đi đến nhà của Phan Huy T1 tại số A đường P, khối phố M, phường A, TP . để chơi. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi P và T1 đang ngồi trên giường trong phòng ngủ của T1 nói chuyện thì thấy lực lượng Công an đến làm việc. Do hoảng sợ, P đã lấy gói ma túy đá cất trong túi quần bên trái đang mặc ra giấu xuống bên dưới nệm giường ngủ trong phòng của T1, nhưng khi P vừa cất giấu gói ma túy đá xuống thì bị lực lượng Công an phát hiện, tạm giữ gói ma túy đá trên.

Làm việc tại Cơ quan điều tra, Lê Văn P đã khai nhận toàn bộ nội dung trên phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được. Kết quả thử nước tiểu vào ngày 27/5/2024 xác định P có sử dụng chất ma túy loại Methamphetamine.

Theo Kết luận giám định số 305/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,555 g (không phẩy năm trăm năm mươi lăm gam).

Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, mục IIC, danh mục II trong phụ lục ban hành theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh chất ma túy và tiền chất.

* Xử lý vật chứng:

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s, số IMEL: 013989000939883, không có sim của Lê Văn P. Qua làm việc, P khai điện thoại này P chỉ sử dụng để liên lạc cá nhân, không dùng để liên lạc mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất dữ liệu trên điện thoại của P nhưng không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội của P, vì vậy đề nghị trả lại cho P là phù hợp.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 92B1-373.55. Qua xác minh, xe này do ông Thái Thành C (sinh năm 1973, trú khối phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Quảng Nam) đứng tên chủ sở hữu. Đến năm 2019, ông C đã bán xe trên cho ông Lê Văn Đ (sinh năm 1968), có viết giấy mua bán xe. Đến năm 2021 ông Đ chết, gia đình ông Đ thấy Lê Văn P (là anh em chú bác ruột) không có phương tiện đi làm nên đã cho P mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, khi nào có điều kiện mua xe thì trả lại. Việc P sử dụng xe trên để đi mua ma túy, gia đình ông Đ không biết nên không có cơ sở để xử lý. Gia đình ông Đ (bà Lê Thị Yến N1, sinh năm 1996, là con ruột ông Đ) xin nhận lại xe nên đề nghị trả lại xe trên cho gia đình ông Đ là phù hợp.

Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ, đây là tiền cá nhân của Lê Văn P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho P là phù hợp. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền này hiện đã được nộp vào tài khoản của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T tại Kho bạc Nhà nước Q.

* Những vấn đề có liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Văn P, Phan Huy T1 đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối Phan Huy T1, qua làm việc T1 trình bày việc Lê Văn P cất giấu gói ma túy đá trong người khi đến nhà T1 thì T1 không biết, P cũng không nói với T1. Khi lực lượng công an đến làm việc, P lấy gói ma túy trong túi quần cất giấu dưới nệm giường ngủ của T1 bị Công an bắt quả tang thì T1 mới biết. Do đó không đủ cơ sở để xử lý đối với T1.

Đối với thanh niên tên H1 đã mua giúp ma túy cho Lê Văn P. Qua làm việc, P khai vào chiều ngày 26/5/2024, P đến khu vực cầu R để tìm chỗ mua ma túy thì gặp H1, H1 nói mình cũng nghiện ma túy và có thể mua giúp ma túy nên P đã đưa tiền nhờ H1 mua giúp. Hân mua ma túy của ai P không biết. P chỉ quen biết Hân ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch của H1, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý.

* Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: không có;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 132/CT-VKSTK-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 12 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và những vấn đề có liên quan trong vụ án: đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tại phiên toà, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.

[2.2] Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Lúc 21 giờ 30 phút ngày 26/5/2024, tại nhà số A đường P thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, Tổ công tác Công an phường A, thành phố T bắt quả tang Lê Văn P có hành vi tàng trữ 0,555 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo Lê Văn P đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 132/CT-VKSTK-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật.

[2.3] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy và những quy định cấm của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Song, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

[2.4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi quyết định hình phạt.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về nhân thân của bị cáo: Ngày 15/8/2024 bị Trưởng Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 1.5000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, tình tiết này sẽ được Hội đồng xem xét khi quyết định hình phạt.

[2.5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

[2.6] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.

[2.7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo tàng trữ ma túy mục đích sử dụng cho bản thân, không thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[3] Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định, được niêm phong trong phong bì của Phòng K Công an tỉnh Q số 305/PC09.
  • - Trả lại cho Lê Văn P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s, số IMEL: 013989000939883, không có sim.
  • - Trả lại cho bà Lê Thị Yến N1: 01 xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 92B1-373.55.
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 400.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[4] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

[5] Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Văn P, Phan Huy T1 đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối Phan Huy T1, qua làm việc T1 trình bày việc Lê Văn P cất giấu gói ma túy đá trong người khi đến nhà T1 thì T1 không biết, P cũng không nói với T1. Khi lực lượng công an đến làm việc, P lấy gói ma túy trong túi quần cất giấu dưới nệm giường ngủ của T1 bị Công an bắt quả tang thì T1 mới biết. Do đó không đủ cơ sở để xử lý đối với T1.

Đối với thanh niên tên H1 đã mua giúp ma túy cho Lê Văn P. Qua làm việc, P khai vào chiều ngày 26/5/2024, P đến khu vực cầu R để tìm chỗ mua ma túy thì gặp H1, H1 nói mình cũng nghiện ma túy và có thể mua giúp ma túy nên P đã đưa tiền nhờ H1 mua giúp. Hân mua ma túy của ai P không biết. P chỉ quen biết Hân ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch của H1, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 27/5/2024.

  3. Về vật chứng:

    • - Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ các bao gói mẫu vật sau giám định, được niêm phong trong phong bì của Phòng K Công an tỉnh Q số 305/PC09.
    • - Trả lại cho Lê Văn P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s, số IMEL: 013989000939883, không có sim.
    • - Trả lại cho bà Lê Thị Yến N1: 01 xe mô tô nhãn hiệu SANDA, màu nâu, biển số 92B1-373.55.
    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 400.000 đồng của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 06/9/2024).

  4. Về án phí:

    Buộc bị cáo Lê Văn P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo Lê văn P có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, thành phố;
  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Công an thành phố;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Quốc Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn P - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger