|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 133/2024/HS-PT Ngày 17-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Vân Thúy
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hữu Trường;
Ông Vũ Quang Trung.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 90/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024
Do Bản án hình sự sơ thẩm 29/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 99/2024/QĐXXPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/HSPT-QĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/HSPT-QĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Tuấn D, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 08 tháng 10 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị G; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Vũ Văn N, sinh ngày 30 tháng 9 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 15 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Trương Quang T, sinh ngày 16 tháng 8 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 1 tháng 29 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Q và bà Phạm Thị L1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Nguyễn Duy K, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 02 tháng 23 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Phạm Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Vũ Hữu H1, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 6 tháng 24 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Hữu H2 và bà Trần Thị Huyền T1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Vũ Văn P, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 02 tháng 07 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn G1 và bà Đinh Thùy L2; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Đinh Văn T2, sinh ngày 29 tháng 8 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 01 tháng 16 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T3, sinh năm 1981 và bà Đỗ Thị Q1, sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Đồng Xuân A, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 8 tháng 19 ngày), tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Xuân T4 và bà Nguyễn Thị D1; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Tuấn D: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị G, sinh năm 1972 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Văn N: Ông Vũ Văn C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trương Quang T: Ông Trương Văn Q, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1981 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Duy K: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1984 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1984 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; bà H có mặt, ông C1 vắng mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Hữu H1: Ông Vũ Hữu H2, sinh năm 1985 và bà Trần Thị Huyền T1, sinh năm 1985 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Văn P: Ông Vũ Văn G1, sinh năm 1982 và bà Đinh Thùy L2, sinh năm 1987 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đinh Văn T2: Ông Đinh Văn T3, sinh năm 1981 và bà Đỗ Thị Q1, sinh năm 1988 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đồng Xuân A: Ông Đồng Xuân T4, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1978 (là bố mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; đều có mặt;
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Tuấn D: Trợ giúp viên pháp lý Trần Minh N1; có mặt;
Người bào chữa cho các bị cáo Vũ Văn N, Vũ Văn P, Đồng Xuân A: Trợ giúp viên pháp lý Đặng Thị Minh L3; có mặt;
Người bào chữa cho các bị cáo Vũ Hữu H1, Trương Quang T, Đinh Văn T2: Trợ giúp viên pháp lý Đoàn Thị H3; có mặt;
- Người tham gia tố tụng khác:
- Đại diện Đoàn TNCSHCM xã M, huyện K nơi bị cáo Nguyễn Duy K lao động, sinh hoạt; vắng mặt;
- Đại diện Trường THPT N4, huyện K nơi bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2 học tập; vắng mặt;
- Đại diện Trường THPT N, huyện K nơi bị cáo Vũ Văn N học tập; vắng mặt;
- Đại diện Trường THPT T10, huyện K nơi bị cáo Trương Quang T học tập; vắng mặt;
- Đại diện Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận D nơi bị cáo Đồng Xuân A học tập: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1986 – là giáo viên chủ nhiệm của bị cáo Đồng Xuân A; có mặt;
- Đại diện Đoàn TNCSHCM xã T, huyện K nơi bị cáo Vũ Văn P lao động, sinh hoạt; vắng mặt;
Bị cáo không kháng cáo: Bùi Đình Minh V, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2007, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án như sau: Do có mâu thuẫn giữa từ trước, ngày 15/10/2023 Đồng Xuân T5 và Vũ Trọng H4 đã hẹn nhau đến khu vực Cầu H thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng để đánh nhau, giải quyết mâu thuẫn. Sau khi hẹn đánh nhau với H4, T5 nhắn tin trên nhóm M1 “May mắn” do T5 làm trưởng nhóm để rủ những người trong nhóm đi đánh nhau; trong đó có Nguyễn Tuấn D, Vũ Văn N, Bùi Đình Minh V, Vũ Hữu H1, Nguyễn Duy K, Vũ Văn P, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A, Trương Quang T, Nguyễn Hải L4, Bùi Trọng Toàn P1, Đoàn Kim Q2, tất cả đều đồng ý tham gia. Nguyễn Tuấn D hẹn cả nhóm khoảng 20 giờ cùng ngày cả nhóm tập trung tại miếu C2 thuộc thôn C, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, nhóm của T5 tập trung ở miếu C2. Khi đi, Nguyễn Tuấn D đến nhà Bùi Trọng T6 P1 lấy 01 dao cán gỗ dài 13cm, dưỡi dao dài 31cm, bản rộng nhất 07cm, lưỡi dao bị han gỉ cầm theo. Vũ Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B3-067.73; Vũ Văn P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-409.26 chở Nguyễn Tuấn D cầm theo dao; Bùi Đình M2 V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-371.06 chở Đồng Xuân T5; Đinh Văn T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-409.35 chở Vũ Hữu H1; Đồng Xuân A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-295.36 chở Trương Quang T; Đoàn Kim Q2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-409.78 chở Nguyễn Duy K; Nguyễn Hải L4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15H1-421.89 chở Bùi Trọng Toàn P1. Cả nhóm di chuyển từ miếu C2 đi hướng tỉnh lộ 361 qua xã T, đến Ngã 4 T thì Nguyễn Hải L4 xuống rìa đường lấy được khoảng hơn 10 vỏ chai bia bằng thủy tinh rồi ngồi sau xe do Bùi Trọng T6 P1 điều khiển. Nguyễn Hải L4 cầm 3 vỏ chai, đưa cho Trương Quang T, Đồng Xuân T5, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1 mỗi người 02 vỏ chai, đưa cho Bùi Đình M2 Vũ 01 vỏ chai. Khi đi, cả nhóm không đội mũ bảo hiểm, di chuyển xe với tốc độ từ 50-60km/h, đi dàn hàng ngang từ 02 đến 03 xe mô tô, lạng lách, đánh võng, bấm còi inh ỏi.
Đối với Vũ Trọng H4, sau khi hẹn đánh nhau với Đồng Xuân T5, H4 nhắn tin rủ Bùi Văn D2, Nguyễn Thành N2, Nguyễn Khánh T7, Bùi Đức T8 cùng ở xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng buổi tối cùng ngày cả nhóm tập trung ở Cầu H thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng để đánh nhau với Đồng Xuân T5, cả nhóm đều đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Vũ Trọng H4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15F1-405.62 chở Bùi Văn D2 đến quán nước của bà Nguyễn Thị H5 ở khu vực Cầu H gặp Bùi Đức T8, Nguyễn Duy H6, Phạm Văn T9, Ngô Văn Quốc A1, Nguyễn Quang H7, Phạm Văn B cùng ở xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng đang ngồi uống nước ở đây. Vũ Trọng H4 rủ mọi người ở lại đánh nhau với nhóm của Đồng Xuân T5, cả bọn đồng ý.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của T5 đi đến Cầu H phát hiện thấy nhóm của H4 đang uống nước tại quán nhà bà Nguyễn Thị H5, Nguyễn Tuấn D hô “nó kìa”. Cả nhóm điều khiển xe mô tô đến gần chỗ Vũ Trọng H4. Đồng Xuân A, Vũ Hữu H1, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Nguyễn Hải L4, Đồng Xuân T5 cầm vỏ chai thủy tinh ném về phía nhóm của H4 làm nhóm của H4 bỏ chạy vào nhà bà H5 nên không ai bị thương tích. Sau khi ném hết vỏ chai, nhóm của T5 điều khiển xe mô tô quay lại hướng Ủy ban nhân dân xã Đ. Thấy nhóm của T5 đi, H4 bảo cả nhóm đi về còn Phạm Văn T9 lấy 01 thuổng dài 01m, đường kính 01cm, một đầu tán dẹt dài 10cm, rộng 05cm ở nhà bà H5 đưa cho H4. H4 cầm thuổng đuổi theo nhóm của T5 nhưng không đuổi được nên đã trả lại cho bà H5. H4 đi ra ngoài đường gặp Bùi Đức T8 đang cầm dao dài khoảng 40cm, bản rộng 04cm do T8 mang đi từ trước. H4 bảo T8 ngồi lên xe của H4 để đuổi đánh nhóm của T5.
Đến Cầu H thì H4 và T8 gặp nhóm của Trường quay lại, T8 sợ hãi nhảy xuống xe bỏ chạy làm rơi dao xuống đường. H4 nhặt dao lao đến đánh nhau với nhóm của T5. H4 dùng dao chém vào vùng trán của Bùi Đình M2 V làm xây xước da kích thước 01 x 01cm. V cầm dao do Nguyễn Tuấn D đưa chém về phía H4 làm xây xước ngón út bàn tay trái dài 02cm, sâu 0,3mm. D đạp vào người H4; Vũ Văn N, Đoàn Kim Q2, Bùi Trọng Toàn P1 và một số đối tượng khác nhặt gạch, đá ném về phía H4 làm H4 bị 02 vết rách môi trên bên trái lần lượt có kích thước dài 1,5cm, sâu 0,5mm và dài 0,5cm, sâu 0,3mm. Đinh Văn T2 và Vũ Hữu H1 dùng xe lao về phía H4 nhưng xe bị đổ. H4 cầm dao chém vào đầu xe của Đinh Văn T2 nhưng không gây hư hỏng xe. Đinh Văn T2 và Vũ Hữu H1 bỏ xe ở lại rồi chạy về phía Ủy ban nhân dân xã Đ.
Thấy H4 bị đánh, Nguyễn Thành N2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26L1-194.24 chở Phạm Văn B cầm côn 3 khúc bằng kim loại quay lại đánh nhau với nhóm của T5. Nguyễn Quang H7 cũng điều khiển xe mô tô chở Phạm Văn T9 quay lại Cầu H. Đến khu vực Cầu H, B đưa côn 3 khúc bằng kim loại cho T9 và cùng N2, H7, T9 chạy đến chỗ H4 để đánh nhau. Khi đến chỗ H4 thì nhóm của T5 đã bỏ chạy nên nhóm của H4 đi về.
Nhận được tin báo, Công an xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng đã đến hiện trường, thu giữ 02 vỏ chai bia thủy tinh, trong đó 01 vỏ chai còn nguyên vẹn, 01 vỏ chai đã bị vỡ. Ngày 19/10/2023, bà Nguyễn Thị H5 giao nộp 01 thuổng sắt dài 01m, đường kính 01cm, một đầu tán dẹt dài 10cm, rộng 05cm; ngày 21/10/2023, Nguyễn Tuấn D giao nộp 01 dao cán gỗ dài 13cm, lưỡi dao dài 31cm, bản rộng nhất dài 07cm, lưỡi dao bị han gỉ. Các hung khí còn lại, do các đối tượng đã ném đi nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Ngày 25/10/2023, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng có văn bản yêu cầu xử lý nghiêm đối với các đối tượng điều khiển xe mô tô, không đội mũ bảo hiểm, cầm theo hung khí, đuổi đánh nhau, ném chai thủy tinh làm quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ, ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của địa phương.
Bùi Đình Minh V, Vũ Trọng H4 bị thương tích nhẹ, không điều trị thương tích, từ chối giám định và không yêu cầu xử lý về hình sự đối với các đối tượng đã gây thương tích cho V và H4.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, thành phố Hải Phòng đã khởi tố vụ án Gây rối trật tự công cộng; ngày 26/12/2023, khởi tố bị can đối với Bùi Đình Minh V; ngày 09/01/2024, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A đều về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSKT ngày 01/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng truy tố Bùi Đình Minh V, Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A.
Tuyên bố các bị cáo Bùi Đình Minh V, Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1. Về hình phạt:
- Xử phạt Bùi Đình Minh V 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07/01/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt các bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn P, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A, mỗi bị cáo 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, giải quyết về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Sau khi xét xử sơ thẩm, 08 bị cáo Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy K là bà Phạm Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Bùi Đình Minh V không kháng cáo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày nội dung vụ việc, khai nhận hành vi phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm; các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo thông nhất đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho các bị cáo được hưởng mức án cải tạo ngoài xã hội. Các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Vũ Văn P, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ: Các đơn đề nghị cho hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương, của Ban giám hiệu các trường nơi các bị cáo đang học, của Đoàn thanh niên Cộng sản H8 nơi các bị cáo sinh hoạt và tài liệu thể hiện đã nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm. Các bị cáo: Vũ Văn N, Nguyễn Duy K, Trương Quang T không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Đại diện Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận D: Trình bày ý kiến nhận xét bị cáo Đồng Xuân A lễ phép, có ý thức học tập và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ hành vi phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và xử phạt các bị cáo mức án và tội danh là đúng pháp luật. Khi phạm tội, các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi nên khi quyết định mức hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định.
Xét kháng cáo của các bị cáo, nhận thấy: Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Vũ Văn P, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới, có đơn bảo lãnh của chính quyền địa phương, nhà trường và Đoàn thanh niên nên đề nghị cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo Vũ Văn N, Nguyễn Duy K, Trương Quang T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới.
Nhận thấy, các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Vũ Văn P, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức phạt tù nhưng cho hưởng án treo; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T, Nguyễn Duy K và người đại diện hợp pháp của bị cáo K, y án sơ thẩm về hình phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
* Những người bào chữa cho các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo là người dưới 18 tuổi phát biểu quan điểm cơ bản thống nhất: Không tranh luận về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo; đều đề nghị xem xét cho các bị cáo được hưởng khoan hồng, áp dụng nguyên tắc xử lý người chưa thành niên, cho các bị cáo được hưởng án treo nhằm mục đích giáo dục các bị cáo nhận thức được sai lầm, tạo cơ hội cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo: Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy K là bà Phạm Thị H trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đình Minh V và những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo bản án sơ thẩm nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định vắng mặt những người này.
- Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Do có mâu thuẫn, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/10/2023, Bùi Đình Minh V, Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A có hành vi tụ tập đông người, mang theo hung khí là dao, vỏ chai thuỷ tinh, không đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, dàn hàng ngang, lạng lách, đánh võng, bấm còi inh ỏi, đi từ tuyến đường xã T đến xã Đ để tìm nhóm của Vũ Trọng H4 với mục đích đánh nhau. Tại khu vực Cầu H thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng, các bị cáo dùng chai thủy tinh ném, dùng dao, gạch, đá đánh nhau với Vũ Trọng H4 làm Bùi Đình Minh V và Vũ Trọng H4 bị thương tích.
Hành vi của các bị cáo Bùi Đình Minh V, Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo không ai kháng cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở.
[4] Các bị cáo: Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A, Nguyễn Duy K và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy K là bà Phạm Thị H không kháng cáo về tội danh và điều luật áp dụng, chỉ đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của từng bị cáo là có cơ sở.
[5.1] Các bị cáo Bùi Đình Minh V, Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định và đánh giá có căn cứ các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo: Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Tuấn D được địa phương xác nhận có ông ngoại được tặng Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng và Huy chương kháng chiến hạng Nhất, có bố đẻ tham gia quân đội; bị cáo Trương Quang T được nhà trường xác nhận quá trình học tập được tặng Giấy khen các năm 2021, 2022; bị cáo Nguyễn Duy K được có cụ ngoại là Liệt sỹ; bị cáo Vũ Văn N có ông nội được tặng Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng, bà nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo Đinh Văn T2 có đơn xin bảo lĩnh và được địa phương xác nhận có cụ nội là “Lão thành cách mạng”, ông nội hưởng chế độ người tham gia kháng chiến, bố đẻ là người thờ cúng Liệt sỹ; bị cáo Vũ Văn P có ông nội là Liệt sỹ; bị cáo Đồng Xuân A có cụ nội là “Lão thành cách mạng” được Thành ủy Hải Phòng công nhận là cán bộ cũ. Các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá: Khi phạm tội, các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi nên xem xét áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định đối với người đủ 18 tuổi trở lên và quyết định mức hình phạt phù hợp, tương xứng với vai trò, nhân thân của các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Xét kháng cáo về việc hưởng án treo:
[7] Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A cung cấp tình tiết mới: Các đơn đề nghị cho hưởng án treo và bảo lĩnh của gia đình các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A có xác nhận của UBND xã nơi các bị cáo cứ trú và đơn xác nhận của nhà trường nơi bị cáo đang học, của Đoàn thanh niên Cộng sản H8 nơi bị cáo Vũ Văn P cư trú, sinh hoạt đề nghị cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, gia đình và nhà trường, đoàn thể giám sát, giáo dục các bị cáo; bị cáo Đinh Văn T2 có Giấy xác nhận của nhà trường đoạt giải nhì đội nam cầu lông trong Hội khỏe Phù Đổng thành phố năm học 2023-2024; bị cáo Vũ Hữu H1 cung cấp thêm tài liệu thể hiện có ông nội là người có công với cách mạng. Vì vậy, cần cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A đã tự nguyện chấp hành nghĩa vụ dân sự theo quyết định của bản án sơ thẩm, thi hành xong số tiền án phí phải nộp thể hiện việc nghiêm túc chấp hành pháp luật.
[7.1] Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A hiện đang là học sinh, có đơn xin bảo lĩnh của gia đình cam đoan giám sát giáo dục các bị cáo và xác nhận của nhà trường nơi các bị cáo đang học tập để tạo điều kiện cho các bị cáo được tiếp tục học tập trong môi trường giáo dục của nhà trường là cần thiết và Vũ Văn P có xác nhận của Đoàn H8 và đơn bảo lĩnh có xác nhận của chính quyền địa phương. Để tạo điều kiện cho các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A có cơ hội sửa chữa sai lầm, do có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và không có hành vi vi phạm nào khác, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo: Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7.2] Đối với các bị cáo: Vũ Văn N, Nguyễn Duy K và Trương Quang T: Xét thấy, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú phối hợp với gia đình người bị kết án có trách nhiệm giám sát, giáo dục người đó trong thời gian thi hành quyết định của Tòa án. Song tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Vũ Văn N, Nguyễn Duy K, Trương Quang T không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới, không có đơn bảo lĩnh, không có cam kết, xác nhận của gia đình hay của chính quyền, nhà trường, đoàn thể trong việc bảo đảm sự giám sát, giáo dục các bị cáo, thể hiện gia đình chưa có sự quyết tâm cao phối hợp với chính quyền địa phương hoặc nhà trường, đoàn thể trong việc quản lý, giám sát, giáo dục các bị cáo nếu được cải tạo ngoài xã hội. Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn N trình bày ngoài hành vi phạm tội đang bị xét xử, bị cáo còn bị cơ quan công an huyện T triệu tập và lấy lời khai về hành vi vi phạm khác nhưng chưa có quyết định khởi tố, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm và có khả năng tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T, Nguyễn Duy K và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy K; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T, Nguyễn Duy K là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo được chấp nhận kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T, Nguyễn Duy K và người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy K.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A; áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Tuấn D, Trương Quang T, Nguyễn Duy K, Vũ Hữu H1, Vũ Văn N, Đinh Văn T2, Vũ Văn P, Đồng Xuân A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn N 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Trương Quang T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Tuấn D cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
- Xử phạt bị cáo Vũ Hữu H1 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Vũ Hữu H1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
- Xử phạt bị cáo Vũ Văn P 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Vũ Văn P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn T2 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đinh Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
- Xử phạt bị cáo Đồng Xuân A 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đồng Xuân A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong thời gian thử thách, nếu những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách..."
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Các bị cáo: Nguyễn Tuấn D, Vũ Hữu H1, Đinh Văn T2, Đồng Xuân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T, Nguyễn Duy K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm nhưng do bị cáo Vũ Văn N, Trương Quang T và Vũ Duy K1 là người chưa đủ 18 tuổi nên do người đại diện hợp pháp của các bị cáo nộp thay.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 14 tháng 05 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |
Bản án số 133/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 133/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn D và đồng bọn gây rối trật tự công cộng
