|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2023/HS-ST
Ngày 15 tháng 8 năm 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Phạm Văn Tú
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Môn
Bà Nguyễn Thị Biên
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện-Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà:Ông Đặng Đức Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2023/QĐXXST- HS ngày 02/8/2023 đối với bị cáo:
Hà Thị Thùy L, sinh năm 1995. Tên gọi khác không
Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
Chỗ ở hiện nay: Ngõ I, đường H, tổ A, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Giới tính: Nữ. Bố Hà Mạnh H, sinh năm 1966.Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1970.Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ ba. Chồng con chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Chị Tạ Thị T1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Chị Phan Thị H1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Chị Dương Thị H2, sinh năm 1971(vắng mặt)
- Chị Dương Thị H3, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Chị Hà Thị Hồng N, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đa Thịnh, xã Yên Lư, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: tổ dân phố 3, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: thôn Bình Voi, xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: thôn B, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: số A, ngõ B, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970(có mặt)
- Chị Luyện Thị C, sinh năm 1974 (vắng mặt)
- Chị Bàn Thị L1, sinh năm 2021(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn An Lạc, xã Yên Khánh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Địa chỉ: thôn Tây, xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: thôn G, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Hà Thị Thùy L, sinh năm 1995, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã V, huyện Ý, tỉnh Nam Định và thuê trọ tại xã S, thành phố B đi làm công nhân tại khu công nghiệp V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên L đi đến các cửa hàng để mua hàng rồi dùng thủ đoạn gian dối thực hiện các thao tác trên điện thoại di động giả vờ chuyển khoản tiền để thanh toán tiền hàng và đưa tiền mặt. Từ tháng 02/2023 đến tháng 4/2023 bằng thủ đoạn nêu trên, L đã thực hiện các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Y và thành phố B, cụ thể như sau:
* Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 02/02/2023, L đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 97B2-089.16 đi đến chợ cóc ở tổ dân phố E, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. L vào cửa hàng bán thực phẩm của chị Luyện Thị C, sinh năm 1974 ở thôn T, xã C, huyện Y hỏi mua 600 gam thị bò với giá 100.000 đồng và nói là không mang tiền mặt nên sẽ chuyển khoản trả tiền mua thịt và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt chi tiêu, chị C đồng ý và bán cho L 600 gam thịt bò. L cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 sử dụng ứng dụng Safari truy cập trang chủ của ngân hàng B1 để nhập tài khoản ngân hàng bằng tên đăng nhập “0946865892”, mật khẩu “thuylinh@111” cùng với một mã kiểm tra bất kỳ. L hỏi tài khoản ngân hàng của chị C thì chị C cung cấp số tài khoản 2511205601752 mở tại Ngân hàng A, L nhập tài khoản thụ hưởng, nhập số tiền 1.100.000 đồng rồi bấm chuyển khoản để hiện bảng thông tin chuyển khoản nhưng thực tế không chuyển khoản được. Sau khi thực hiện xong thao tác, L đưa điện thoại có hình ảnh bảng thông tin cho chị C kiểm tra. Chị C chưa thấy tài khoản thông báo có tiền chuyển đến nên hỏi thì L nói dối là Ngân hàng chuyển chậm, đợi một lúc. Chị C tin tưởng đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt và chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở máy điện thoại của L. Bằng thủ đoạn nêu trên, L đã chiếm đoạt của chị C 1.000.000 đồng tiền mặt và 600 gam thịt bò. Bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận 600 gam thịt bò tại thời điểm ngày 02/02/2023 có giá trị 100.000 đồng.
Ngày 29/3/2023, chị C có đơn trình báo Công an huyện Y và giao nộp 02 ảnh chụp thông báo chuyển tiền và số tài khoản ngân hàng của L.
* Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 12/3/2023, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 97B2-089.16 đến thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. L vào cửa hàng bán quần áo của chị Tạ Thị T1, sinh năm 1980 ở thôn Đ, xã Y, huyện Y hỏi mua 01 áo phông cộc tay và 01 chiếc quần sooc. Chị T1 báo giá là 220.000 đồng. L nói dối chị T1 là không mang tiền mặt nên chuyển khoản trả tiền mua quần áo và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt, chị T1 đồng ý. L thực hiện các thao tác như trên để giả mạo việc chuyển vào tài khoản của chị T1 số tiền 1.220.000 đồng. Chị T1 tin tưởng và đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt rồi chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở máy điện thoại của L và hình ảnh L đang ngồi trên xe máy. Bằng thủ đoạn trên, L đã chiếm đoạt của chị T1 1.000.000 đồng và 01 bộ quần áo cộc. Bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận 01 bộ quần áo gồm một chiếc áo phông cộc tay, một chiếc quần sóoc loại vải trơn có giá trị tại thời điểm ngày 12/03/2023 là 220.000 đồng.
Ngày 28/3/2023, chị Tạ Thị T1 có đơn trình báo Công an huyện Y và giao nộp ảnh chụp thông báo chuyển tiền và hình ảnh L ngồi trên xe máy.
*Vụ thứ ba: Ngay sau khi thực hiện xong vụ thứ hai, khoảng 16 giờ cùng ngày 12/3/2023, L đi xe máy đến quán nước của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987 ở tổ dân phố C, thị trấn N, huyện Y hỏi mua 01 cốc nước ép cam 350ml với giá 20.000 đồng. L nói với chị T2 là không mang tiền mặt nên chuyển khoản trả tiền mua nước cam và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt, chị T2 đồng ý. L thực hiện các thao tác trên điện thoại để giả việc chuyển vào tài khoản của chị T2 1.020.000 đồng. Chị T2 tin tưởng và đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt rồi chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở máy điện thoại của L. Bằng thủ đoạn trên, L đã chiếm đoạt của chị T2 1.000.000 đồng tiền mặt và 01 cốc nước cam. Bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận 01 cốc nước cam ép 350ml có giá trị tại thời điểm ngày 12/03/2023 là 20.000 đồng.
Ngày 28/3/2023, chị Nguyễn Thị T2 có đơn trình báo đến Công an huyện Y. Chị T2 giao nộp 01 ảnh chụp thông báo chuyển tiền.
* Vụ thứ tư: Khoảng 10 giờ ngày 17/03/2023, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 97B2-089.16 đến chợ N2, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. L vào cửa hàng bán quần áo của chị Phan Thị H1, sinh năm 1978 ở thôn B, xã C, huyện Y hỏi mua 02 chiếc quần thể thao với giá 200.000 đồng. L nói không mang tiền mặt nên chuyển khoản trả tiền mua quần và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt chi tiêu, chị H1 đồng ý. L tiếp tục thực hiện các thao tác như trên để giả việc chuyển vào tài khoản của chị H1 1.200.000 đồng. Chị H1 tin tưởng và đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt rồi chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở điện thoại của L. Bằng thủ đoạn trên, L đã chiếm đoạt của chị H1 1.000.000 đồng tiền mặt và 02 quần thể thao. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 02 (hai) chiếc quần thể thao nam dạng quần sóoc, loại vải trơn, túi quần có khóa có giá trị tại thời điểm ngày 17/03/2023 là 200.000 đồng.
Ngày 28/3/2023, chị Phan Thị H1 có đơn trình báo đến Công an huyện Y. Chị H1 giao nộp 01 ảnh chụp thông báo chuyển tiền.
* Vụ thứ năm: Ngay sau khi thực hiện xong vụ thứ tư, khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/3/2023, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 97B2-089.16 đi đến chợ ở tổ dân phố E, thị trấn N, huyện Y. L đi vào cửa hàng của chị Dương Thị H2, sinh năm 1971 ở thôn B, xã C, huyện Y mua 02 lốc nước ngọt trà xanh không độ, tổng số 12 chai với giá 120.000 đồng. L nói với chị H2 là không mang tiền mặt nên chuyển khoản trả tiền mua nước và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt chi tiêu, chị H2 đồng ý. L thực hiện các thao tác trên điện thoại để giả việc chuyển vào tài khoản của chị H2 1.120.000 đồng. Chị H2 tin tưởng và đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt rồi chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở điện thoại của L và biển số xe mô tô của L. Bằng thủ đoạn trên, L đã chiếm đoạt của chị H2 1.000.000 đồng và 02 lốc nước ngọt. Bản kết luận định giá tài sản số 40 ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận 12 chai nước ngọt nhãn hiệu trà xanh không độ loại 500ml có giá trị tại thời điểm ngày 17/3/2023 là 100.000 đồng.
Ngày 29/3/2023, chị H2 có đơn trình báo Công an huyện Y và giao nộp 02 ảnh chụp thông báo chuyển tiền và ảnh xe mô tô BKS 97B2-089.16.
* Vụ thứ sáu:Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/4/2023, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 18D1 - 755.82 đi đến chợ T6, phường L, thành phố B. Tại đây, L gặp chị Dương Thị H3, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã L, huyện Y bán thịt lợn ở chợ. L hỏi mua 0,6 kg thịt lợn với giá 70.000 đồng.L nói dối chị H3 là không mang tiền mặt nên chuyển khoản trả tiền mua thịt và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt chi tiêu, chị H3 đồng ý. L thực hiện các thao tác trên điện thoại để giả việc chuyển vào tài khoản của chị H3 1.070.000 đồng. Chị H3 tin tưởng và đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt rồi chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở máy điện thoại của L và hình ảnh L đã tháo khẩu trang. Bằng thủ đoạn trên, L đã chiếm đoạt của chị H3 1.000.000 đồng và 0,6 kg thịt lợn. Bản kết luận định giá tài sản số 120 ngày 27/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận 0,6 kg thịt lợn ba chỉ có giá trị tại thời điểm ngày 19/4/2023 là 70.000 đồng.
Ngày 01/5/2023, chị H3 có đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp 02 ảnh chụp thông báo chuyển tiền và hình ảnh L tháo khẩu trang.
* Vụ thứ bẩy: Ngay sau khi thực hiện xong vụ thứ sáu, L điều khiển xe mô tô đi đến vỉa hè đường L, phường H, thành phố B cạnh trụ sở cũ của Bảo hiểm Xã hội thành phố B. Tại đây, L gặp chị Hà Thị Hồng N, sinh năm 1986, trú tại số A, ngõ B, đường N, phường T, thành phố B đang bán quần áo trên vỉa hè. L hỏi mua 02 bộ quần áo ngủ cộc tay trẻ em và 01 chiếc váy trẻ em với giá 350.000 đồng. L nói với chị N là không mang tiền mặt nên chuyển khoản trả tiền mua quần áo và chuyển thêm 1.000.000 đồng để lấy tiền mặt chi tiêu, chị N đồng ý. L thực hiện các thao tác trên điện thoại để giả việc chuyển vào tài khoản của chị N số tiền 1.350.000 đồng. Chị N đưa cho L 1.000.000 đồng tiền mặt rồi chụp ảnh lại thông báo chuyển tiền ở máy điện thoại của L và hình ảnh L đã tháo khẩu trang. Bằng thủ đoạn trên, L đã chiếm đoạt của chị N 1.000.000 đồng, 02 bộ quần áo ngủ cộc tay và 01 chiếc váy trẻ em. Bản kết luận định giá tài sản số 120 ngày 27/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 02 bộ quần áo ngủ cộc tay trẻ em và 01 chiếc váy trẻ em, chưa qua sử dụng có tổng giá trị tại thời điểm ngày 19/4/2023 là 350.000 đồng.
Ngày 01/5/2023, chị N có đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp 02 ảnh chụp thông báo chuyển tiền và hình ảnh L tháo khẩu trang.
Ngày 02/5/2023, Công an thành phố B triệu tập Hà Thị Thùy L để làm việc thì L đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã thu giữ của L số đồ vật, tài sản gồm:
- 01 xe mô tô nhãn nhiệu Honda Wave Alpha biển số 18D1-755.81
- 01 đăng ký xe mô tô; 01 căn cước công dân; 01 thẻ ngân hàng V đều mang tên Hà Thị Thùy L
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA lắp sim số 0946.865.829
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim thuê bao số 0877.674.023
- Số tiền mặt 6.065.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y thu giữ của L số đồ vật, tài sản gồm:
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 97B2 - 089.16
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng
- Số tiền 8.651.000 đồng và 38.950.000 đồng
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 tại thư mục ảnh còn lưu 04 hình ảnh thể hiện L chuyển tiền cho Tạ Thị T3, Nguyễn Thị T2, Phan Thị H1, Dương Thị H2; kiểm tra tài khoản thấy trong tài khoản có số dư là 1.445.386 đồng.
Cơ quan điều tra đã cho Hà Thị Thùy L thực nghiệm thao tác trên điện thoại di động về động tác giả việc chuyển khoản tiền. Kết quả L thực hiện thành thục, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã cho chị Hà Thị Hồng N, Dương Thị H3, Dương Thị H2, Nguyễn Thị T2, Tạ Thị T1 nhận dạng ảnh Hà Thị Thùy L. Kết quả các bị hại đều nhận đúng ảnh và xác định bị L lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị các Ngân hàng cung cấp lịch sử giao dịch của tài khoản của L và tài khoản của những người bị hại trong những ngày bị L lừa đảo chiếm đoạt. Kết quả xác định tài khoản của L không phát sinh giao dịch chuyển tiền; tài khoản của những người bị hại không phát sinh số tiền chuyển đến.
Đối với hành vi Hà Thị Thùy L lừa đảo chiếm đoạt 1.000.000 đồng tiền mặt và 600 gam thị bò với giá 100.000 đồng của chị Luyện Thị C ngày 02/02/2023. Hành vi này không thuộc trường hợp liên tục và kế tiếp về thời gian; giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, L chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nênCơ quan điều tra đã đề nghị Trưởng Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970, trú tại thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (là mẹ của L) đã bồi thường cho chị Luyện Thị C 1.100.000 đồng; chị Tạ Thị T1 1.220.000 đồng; chị Nguyễn Thị T2 1.020.000 đồng; chị Phan Thị H1 1.200.000 đồng; chị Dương Thị H2 1.120.000 đồng; chị Dương Thị H3 1.070.000 đồng; chị Hà Thị Hồng N 1.350.000 đồng. Những người bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho L.
Về thu giữ và xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an thành phố B tạm giữ của cháu Hà Yến N1, sinh năm 2015, trú tại thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định: 01 chiếc quần cộc vải cotton, màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton, màu trắng; 02 chiếc áo cộc vải cotton màu đen là những tài sản do L lừa đảo chiếm đoạt của chị Hà Thị Hồng N sau đó cho cháu N1 để sử dụng. Những tài sản chiếm đoạt là hàng hóa còn lại, L khai đã sử dụng hết hoặc vứt bỏ nên không thu hổi được.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 97B2 - 089.16 là của chị Bàn Thị L1, sinh năm 2001 ở thôn G, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang cho L mượn. Chị L1 không biết việc L sử dụng để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị L1.
Đối với các tài sản, đồ vật, tài liệu và vật chứng còn lại trong vụ án đã thu giữ, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 29/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phốBắc Giang truy tốHà Thị Thùy Linh về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theokhoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị Thùy L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối vớibị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1và khoản 5 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểmb, s khoản 1 và khoản 2Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hà Thị Thùy L từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023.
- Phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo L 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụngĐiều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu 02 chiếc quần cộc vải cotton, màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton, màu trắngđể tiêu hủy.Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXSmàu vàng để sung ngân sách Nhà nước.
- Trả lại bị cáo số tiền 53.666.000 đồng,01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA,01 xe mô tô nhãn nhiệu Honda Wave Alpha biển số 18D1-755.81 và 01 đăng ký xe mô tô, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng V,01 thẻ ngân hàng B1 đều mang tên Hà Thị Thùy L nhưng giữ lại số tiền 53.666.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
- * Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hìnhsự; Điều 23Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát,bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa những người này vắng mặt,Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy đã có lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.
[3]. Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáotại phiên tòa phù hợp với lời khai củabị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai củabị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanvà vật chứng thu giữ đượccó đủ cơ sở kết luận:Từ tháng 02/2023 đến tháng 4/2023, Hà Thị Thùy L dùng thủ đoạn gian dối đi đến các cửa hàng để mua hàng hóa, giả vờ không đem tiền mặt nên thanh toán tiền hàng bằng hình thức chuyển khoản và chuyển thêm tiền để lấy tiền mặt. Bị hại tin tưởng đã thanh toán tiền hàng và đưa tiền mặt và bị L chiếm đoạt. Bằng thủ đoạn nêu trên, L đã thực hiện các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Y và thành phố B, cụ thể như sau:
Ngày 12/3/2023, L chiếm đoạt của chị Tạ Thị T3 số tiền 1.000.000 đồng và 01 bộ quần áo trị giá 220.000 đồng; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị T2 số tiền 1.000.000 đồng và 01 cốc nước cam trị giá 20.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt trong ngày 12/3/2023 là 2.240.000 đồng.
Ngày 17/3/2023, L chiếm đoạt của chị Phan Thị H1 số tiền 1.000.000 đồng và 02 quần thể thao nam trị giá 200.000 đồng; chiếm đoạt của chị Dương Thị Hiệu s tiền 1.000.000 đồng và 02 lốc nước ngọt trà xanh không độ trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt trong ngày 12/3/2023 là 2.300.000 đồng.
Ngày 19/4/2023, L chiếm đoạt của chị Dương Thị H3 số tiền 1.000.000 đồng và 0,6 kg thịt lợn trị giá 70.000 đồng; chiếm đoạt của chị Hà Thị Hồng N số tiền 1.000.000 đồng và 02 bộ quần áo và 01 chiếc váy trị giá 350.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt trong ngày 19/4/2023 là 2.420.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản mà Hà Thị Thùy L lừa đảo chiếm đoạt của 06 bị hại nêu trên là 6.960.000 đồng.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận Hà Thị Thùy L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội danh và hình phạt được quy địnhtạikhoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.Viện kiểm sát nhân dân thành phốBắc Giang truy tố bị cáoHà Thị Thùy L2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theokhoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật,giả vờ không đem tiền mặt nên thanh toán tiền mua hàng bằng hình thức chuyển khoản và chuyển thêm tiền từ tài khoản của mình để lấy tiền mặt, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ để sử dụng và chi tiêu cá nhân, gây mất ổn định về trật tự an ninh tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần có một mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.
[5].Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Hà Thị Thùy L3 tội 02 lần trở lên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sựtheo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6].Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, đầu thú trước cơ quan điều tra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểmb, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[7].Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[8].Về phần trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T4 mẹ của Linhtrong quá trình điều tra vụ án đã bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Luyện Thị C số tiền 1.100.000 đồng.Bồi thường cho các bị hại và chị Tạ Thị T1 1.220.000 đồng; chị Nguyễn Thị T2 1.020.000 đồng; chị Phan Thị H1 1.200.000 đồng; chị Dương Thị H2 1.120.000 đồng; chị Dương Thị H3 1.070.000 đồng; chị Hà Thị Hồng N 1.350.000 đồng. Nay bị hại đều không có yêucầu bồi thường gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho L2. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về phần dân sự đối với bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[9]. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bàn Thị L1 trong quá trình điều tra vụ án đã được Cơ quan điều tra trả lại01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 97B2 - 089.16, đối với bà Nguyễn Thị T5 mặt tại phiên tòa cũng không có yêu cầu gì về số tiền đã bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về phần dân sự đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[10].Đối với hành vi Hà Thị Thùy L lừa đảo chiếm đoạt 1.000.000 đồng tiền mặt và 600 gam thị bò với giá 100.000 đồng của chị Luyện Thị C ngày 02/02/2023. Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ pháp luật, do vậy không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
[11]. Về vật chứng trong vụ án là 02 chiếc quần cộc vải cotton, màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton, màu trắngkhông có giá trị cần tịch thu để tiêu hủy.01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXS màu vàng của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu để sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 53.666.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, 01 xe mô tô nhãn nhiệu Honda Wave Alpha biển số 18D1-755.81 và 01 đăng ký xe mô tô, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng V, 01 thẻ ngân hàng B1 đều mang tên Hà Thị Thùy L4 là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại bị cáo nhưng giữ lại số tiền 53.666.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[13]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b,s khoản 1 và khoản 2Điều 51,Điều 38,điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Hà Thị Thùy L 07 (B)tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023.
Phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo L 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu 02 chiếc quần cộc vải cotton, màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton màu đen; 01 chiếc áo cộc vải cotton, màu trắngđể tiêu hủy.Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneXS màu vàng để sung ngân sách Nhà nước.Trả lại bị cáo số tiền 53.666.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, 01 xe mô tô nhãn nhiệu Honda Wave Alpha biển số 18D1-755.81 và 01 đăng ký xe mô tô, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ngân hàng V, 01 thẻ ngân hàng B1 đều mang tên Hà Thị Thùy L nhưng giữ lại số tiền 53.666.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về ánphí: Bị cáo Hà Thị Thùy L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tú |
12
Bản án số 133/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 133/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo
