Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày: 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Văn Hậu

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 167/2024/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Thế D. Tên thường gọi khác: Không, sinh ngày 12/02/1977, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Thế T, sinh năm 1955 và con bà Hồ Thị L, sinh năm 1956; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Chu Thị B; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, Lại Thế D đi xe buýt từ thành phố V, tỉnh Nghệ An về nhà tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Trên đường đi, D nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực Cổng ba cửa thuộc địa phận xã D, huyện D, D xuống xe rồi bắt xe ôm đến khu vực bến thuyền thuộc xã D huyện D để hỏi mua ma túy. Tại đây D gặp một người đàn ông (không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi “Có hồng không, bán cho một viên nghĩa là D hỏi mua 01 (Một) viên ma túy hồng phiến, người này đồng ý, nói “Có, một trăm nghìn một viên". Người này cầm tiền D đưa đi đâu đó một lúc rồi quay lại đưa cho D 01 (Một) gói nilon màu đen, bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, D cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ sang nhà Chu Sỹ H, sinh năm 1968, trú tại xóm T, xã D, huyện D (chú ruột của D) chơi. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, khi D đang ngồi uống nước một mình ở sân nhà H, thì bị tổ công tác Công an xã D, huyện D kiểm tra. Do hoảng sợ, Lại Thế D thả gói ma túy trong tay phải xuống sân, phía trước chân phải cạnh vị trí D đang ngồi thì bị thu giữ. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện D điều tra xử lý theo quy định.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 12 giờ 00 phút ngày 13/6/2024 tại Công an huyện D và Bản kết luận giám định số 672/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lại Thế D gửi giám định là ma túy, loại (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 0,1 gam (Không phẩy một gam).

Tại bản cáo trạng số: 146/CT-VKS-DC ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố Lại Thế D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lại Thế D từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bưu điện niêm phong theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký của cán bộ tham gia cùng đối tượng Lại Thế D và hình dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, bên trong chứa vật chứng thu giữ của Lại Thế D còn lại sau khi lấy giám định; 01 (Một) mành nilon màu đen và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì; lời nói sau cùng của bị cáo sau khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã D, Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 13/6/2024, tại nhà Chu Sỹ H1, thuộc xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An bắt quả tang Lại Thế D đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 (Một) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một gam) với mục đích để sử dụng. Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện, có tác hại xấu đến sức khỏe của con người, làm băng hoại đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện và thái độ coi thường pháp luật, bị cáo vẫn lao vào con đường phạm tội. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời ngăn ngừa tội phạm mới và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình có bố đẻ có công với cách mạng (là thương binh), nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế đối với bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa; thì bị cáo không có công việc, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (Một) viên nén màu hồng có khối lượng 0,1 gam là ma túy Methamphetamine thu của bị cáo Lại Thế D, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi đi giám định, Cơ quan giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xem xét.

Đối với 01 (một) phong bì thư bưu điện N theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký của cán bộ tham gia cùng đối tượng Lại Thế D và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, bên trong chứa vật chứng thu giữ của Lại Thế D còn lại sau khi lấy giám định; 01 (Một) mành nilon màu đen và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu. Là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[6]. Về nội dung liên quan khác: Đối với người đã bán ma túy cho Lại Thế D (Theo lời khai của D). Do không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh, xử lý.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lại Thế D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/6/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì thư theo đúng quy định, dán kín, trên mép dán có chữ ký cán bộ tham gia, đối tượng Lại Thế D và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Lại Thế D còn lại sau khi lấy giám định gồm; 01 (Một) mành nilon màu đen và 01 (Một) phong bì thư niêm phong ban đầu. (Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 13/8/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).

4. Về án phí: Bị cáo Lại Thế D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger