TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/HS-ST
Ngày: 11-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc H - Kiểm sát viên.
Phiên tòa được tổ chức theo hình thức trực tuyến với hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận; Điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Cán bộ, chiến sĩ thuộc Nhà tạm giữ Công an thành phố P - T tại điểm cầu thành phần có ông Sa Ô N và ông Chamaléa D.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận và Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 27/6/2024 đối với bị cáo:
Trương Khắc T, sinh năm 1977; tại Ninh Thuận.
Nơi thường trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nơi ở hiện tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Khắc T1 (đã chết) và bà Lương Thị M, sinh năm 1945; có vợ tên Đàm Thị Thanh P (đã ly hôn); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2006.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đàm Thị Thanh P, sinh năm 1982 (có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Môi trường Công an T- T phối hợp Công an phường T tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường T. Khi tổ tuần tra đi đến hẻm S đường T, thuộc khu phố A, phường T thì phát hiện Trương Khắc T đang điều khiển xe mô tô biển số 85B1- 685.04 có biểu hiện nghi vấn nên tổ tuần tra ra hiệu dừng xe kiểm tra. Thấy vậy, T ném 01 gói giấy bạc đang cầm trong lòng bàn tay trái, ngay tại nơi T đứng, thì bị tổ tuần tra nhìn thấy. Qua kiểm tra gói giấy bạc, Công an phát hiện bên trong có 02 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính, bên trong mỗi bịch có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1.1), 02 viên nén, màu xanh lá hình bông hoa (ký hiệu M1.2) và 01 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1.3) nên lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm việc.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại khu phố C, phường Đ, TP . - T thì T tự nguyện giao nộp 09 bịch nylon màu trắng dạng miệng khép dính, bên trong mỗi bịch có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2.1) và nửa viên nén, màu xanh lá hình bông hoa (ký hiệu M2.2) được đựng trong một hủ nhựa có nắp màu đỏ, bỏ trong bịch nylon màu đen, đè lên trên bằng 01 tô inox màu trắng, được cất giấu trong bụi cây, phía trước nhà ở trọ của T. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật.
Quá trình điều tra Trương Khắc T khai nhận: Do có nhu cầu sư dụng ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 23/01/2024, T gọi điện thoại cho một người thanh niên tên “Bùm” (được bạn bè giới thiệu, không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 2.600.000 đồng ma tuý (gồm 03 bịch ma tuý khay, 02 viên ma tuý loại thuốc lắc), thì B đồng ý và hẹn T đến khu vực đường mương gần quán D đường N, phường T, TP . T đê mua bán ma túy. Tại đây, T gọi cho B, B nói ma tuý được để trên bờ thành bê tông mương, có cục đá đè lên (Bùm dặn gọi xong thì xoá số điện thoại của B) còn tiền bán ma tuý, sáng mai B sẽ cho người ra gặp T để lấy. T lấy ma tuý được đựng trong gói giấy bạc rồi chạy về đến hẻm C đường T, thuộc khu phố A, phường T, TP . - T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Tại Cơ quan điều tra, Trương Khắc T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình.
Tại bản kết luận giám định số: 1160/KL-KTHS, ngày 30/01/2024 của Phân viện Khoa học Hình sư tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Tinh thể màu trắng đưng trong 02 bịch nylon dạng miệng khép dính (ký hiệu M1.1) gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine có tổng khối lượng: 0,74 gam;
- 02 viên nén hình bông hoa màu xanh lá (ký hiệu M1.2) gưi giám định là ma tuý, loại MDMA, khối lượng: 0,7527 gam.
- Tinh thể màu trắng đưng trong 01 bịch nylon dạng miệng khép dính (ký hiệu M1.3) gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, khối lượng: 0,4333 gam.
- Tinh thể màu trắng đưng trong 09 gói nylon dạng miệng khép dính (ký hiệu M2.1) gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine có khối lượng: 3,1801 gam.
- Nửa viên nén hình bông hoa màu xanh lá (ký hiệu M2.2) gửi giám định là ma tuý, loại MDMA có khối lượng: 0,2182 gam.
H1 lại mẫu sau giám định mẫu M2.1 có khối lương: 2,9418 gam, được niêm phong.
Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định: Mẫu M1.1, M1.2, M1.3, M2.2 đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Cáo trạng số 119/CT-VKSPRTC ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Trương Khắc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Khắc T từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù.
Về vật chứng:
- Đối với 01 gói đã được niêm phong, bên trong có 2,9418 gam chất ma túy, loại Ketamine cùng toàn bộ đồ vật, bao gói gửi đến giám định là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 hũ nhựa màu trắng gắn nắp màu đỏ, 01 bịch nylon màu đen, 01 tô inox màu trắng, không còn giá trị sử dụng. Đây là chất ma túy, dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong có gắn sim số 0784065427, là điện thoại của Trương Khắc T dùng để liên lạc mua ma túy, còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu trắng, biển số 85B1-685.04 là xe của chị Đàm Thị Thanh P. Việc T dùng xe mô tô này làm phương tiện mua ma túy thì chị P hoàn toàn không biết nên đề nghị trả lại cho chị P.
Bị cáo không tranh luận.
Bà Đàm Thị Thanh P không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/01/2024, tại hẻm S đường T, khu phố A, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận, Trương Khắc T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,1733 gam chất ma túy, loại Ketamine và 0,2182 gam chất ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, T còn tàng trữ trái phép tại nơi ở trọ 3,1801 gam chất ma túy, loại Ketamine và 0,2182 gam chất ma túy, loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng. Tổng khối lượng 02 chất ma túy T tàng trữ trái phép là 4,3534 gam chất ma túy, loại Ketamine và 0,9709 gam chất ma túy, loại MDMA.
Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng tỷ lệ % của các chất ma túy trên so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là dưới 100% (của MDMA là 19,418%, của Ketamine là 21,7676%, tổng là 41,185%). Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố đối với Trương Khắc T là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy và hình phạt đối với các tội phạm liên quan đến ma túy là rất nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm hoạt động quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và vi phạm pháp luật hình sự; do đó cần
xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có cậu ruột là liệt sỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phần hình phạt khi lượng hình.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Đối với người đàn ông tên B (không rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Trương Khắc T, quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi và địa chỉ cụ thể. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau là có căn cứ.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với 01 gói đã được niêm phong, bên trong có 2,9418 gam chất ma túy, loại Ketamine cùng toàn bộ đồ vật, bao gói gửi đến giám định là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 hũ nhựa màu trắng gắn nắp màu đỏ, 01 bịch nylon màu đen, 01 tô inox màu trắng, không còn giá trị sử dụng. Đây là chất ma túy, dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
[7.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong có gắn sim số 0784065427, là điện thoại của Trương Khắc T dùng để liên lạc mua ma túy, còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
[7.3] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu trắng, biển số 85B1-685.04 là xe của chị Đàm Thị Thanh P. Việc T dùng xe mô tô này làm phương tiện mua ma túy thì chị P hoàn toàn không biết nên cần trả lại cho chị P.
[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang -T về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội; quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ và đúng pháp luật, nên chấp nhận.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Khắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Khắc T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2.1] Tịch thu, tiêu hủy 01 gói đã được niêm phong, bên trong có 2,9418 gam chất ma túy, loại Ketamine cùng toàn bộ đồ vật, bao gói gửi đến giám định là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 hũ nhựa màu trắng gắn nắp màu đỏ, 01 bịch nylon màu đen, 01 tô inox màu trắng, không còn giá trị sử dụng.
[2.2] Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, bên trong có gắn sim số 0784065427, là điện thoại của Trương Khắc T dùng để liên lạc mua ma túy, còn giá trị sử dụng.
[2.3] Trả lại cho chị Đàm Thị Thanh P 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu trắng, biển số 85B1-685.04.
Các vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trương Khắc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/7/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 133/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Khắc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuy
