|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2024/HSST
Ngày 10/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc và Bà Lê Thị Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hạp Thị Lan Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 07 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 131/2024/HSST ngày 12 tháng 06 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 06 năm 2024, đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1965.
HKTT: Châu Cầu, C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Tạ Thị L (đã chết); Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Bùi Thị X, sinh năm 1968. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 91/2021/HSST ngày 12/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ (nay là thị xã Q), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị can chấp hành xong án phí ngày 31/8/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2022.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/03/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
2. Bị cáo: Phạm Văn D, sinh năm 1984.
HKTT: Phù Lãng, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hồng K và bà Trần Thị T; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1990. Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 150/2018/HSST ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 7 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 tháng về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 21/11/2019.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/03/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B.
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Ông Nguyễn Kim S – Cán bộ phụ trách tin học Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
2. Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 24/3/2024, Nguyễn Văn N lên khu vực cầu B thuộc địa phận thôn C, xã C, thị xã Q gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 100.000 đồng ma túy được 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. N mang về nhà chia thành 02 gói nhỏ gói giấy bạc màu trắng cất giấu với mục đích ai hỏi mua thì bán. Một lúc sau, anh Phạm Trọng T1, sinh năm 1983 ở thôn P, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1982 ở thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đến nhà N chơi và ngồi uống nước tại khu vực hiên. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, Phạm Văn D đi bộ vào nhà N để mua ma túy. Khi gặp N ở ngoài sân D nói “Có hàng không để cho em một trăm nghìn” (ý hỏi mua ma túy của N), đồng thời đưa cho N 100.000 đồng. N cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên phải và bảo D đứng đợi. Sau đó, N đi vào trong nhà, lấy 01 gói ma túy đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc, gói ma túy còn lại N cầm ở tay mang ra cửa đưa lại cho D. Biết đó là ma túy cần mua nên D cầm tại lòng bàn tay phải. Đúng lúc này, tổ công tác Công an thị xã Q phối hợp với công an xã C phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ:
- + Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Dư 01 gói giấy bạc màu trắng mở ra bên trong có chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1;
- + Thu tại túi quần phía trước bên trái N đang mặc một gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2
- + Thu tại túi quần phía trước bên phải N đang mặc số tiền 100.000 đồng
Tại bản Kết luận giám định số 839/KL-KTHS ngày 26/03/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1136 gam, là ma túy; Loại ma túy: Heroine;
Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 gửi giám định có khối lượng là 0,0296gam, là ma túy; Loại ma túy: Heroine;"
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Văn N và Phạm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKSQV ngày 10/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn N và Phạm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Phạm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Văn N từ 30 tháng đến 36 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Phạm Văn D từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn N và Phạm Văn D nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N và Phạm Văn D tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Hồi 11 giờ 50 phút ngày 24/3/2024, tại nhà của Nguyễn Văn N ở thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn D có hành vi mua 0,1136 gam Heroin của Nguyễn Văn N với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân thì bị Công an thị xã Q phối hợp với Công an xã C bắt quả tang. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ tại túi quần phía trước bên trái N đang mặc 0,0296 gam Heroin, N khai nhận mục đích để bán kiếm lời. Do vậy, tổng số ma túy Nguyễn Văn N bán và tàng trữ để bán là 0,1432 gam Heroin, tổng số ma túy Phạm Văn D tàng trữ để sử dụng là 0,1136 gam Heroin. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Q. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo thì thấy: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Cả hai bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà tiếp tục phạm tội. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay hai bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo N đang thờ cúng anh trai ruột (ông Nguyễn Văn V) là liệt sỹ, bị cáo D đang thờ cúng bác ruột (ông Phạm Văn K1) là liệt sỹ nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy hai bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N, N không biết họ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với anh Phạm Trọng T1 và anh Nguyễn Văn T2, ngày 24/3/2024 khi D đến hỏi mua ma túy của N mới biết N bán ma túy nhưng ngay sau đó D và N đã bị Công an bắt quả tang. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý T1 và T2 về hành vi “Không tố giác tội phạm” là phù hợp.
Về xử lý vật chứng của vụ án: mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh B là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 100.000 đồng là tiền do thực hiện tội phạm mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Phạm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử phạt: Nguyễn Văn N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử phạt: Phạm Văn D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng K2 Công an tỉnh B. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng. (Theo biên bản giao vật chứng và biên lai thu tiền ngày 11/06/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Phạm Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Đắc Dũng |
Bản án số 133/2024/HSST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 133/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N & Phạm Văn D - Mua bán trái phép chất ma tuý + Tàng trữ trái phép chất ma tuý
