Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133 /2024/HS-ST

Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ

Bà Dương Thị Thuý Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại nhà văn hóa thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Cao Văn D, sinh năm 1988 tại tỉnh Quảng Bình;

Hộ khẩu thường trú: Bản L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.

Tạm trú: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chứt; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Cao Xuân T và bà Cao Thị Hồng V; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị L và có 02 con, lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho tới nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. (Bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Văn D là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào lúc 12 giờ ngày 19/01/2024, D đến gặp người tên C (chưa rõ nhân thân) tại quán cà phê ven đường thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai để mua ma tuý, C đồng ý. D đưa cho C 300.000đồng. C đi lấy ma tuý đưa cho D. C đưa cho D một đoạn ống hút màu trắng hàn kín hai đầu có kích thước 01cm x 4,5cm bên trong có chứa ma tuý. D cất dấu ma tuý vào trong túi quần trước bên trái và đi bộ về phòng trọ, đi đến đoạn đường thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng công an xã P nghi ngờ nên kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2561 gam, loại Methamphetamine.”

Tang vật thu giữ:

  • 01 đoạn ống hút màu trắng kích thước 01cm x 4,5cm được hàn kín hai đầu bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (đã được niêm phong có chữ ký của Cao Văn D, Nguyễn Hoàng P và dấu tròn đỏ của công an xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai), thu giữ trong túi quần sau bên trái của Cao Văn D.
  • 01 điện thoại di động màu hồng hiệu Samsung, 01 điện thoại di động màu đỏ hiệu Oppo (đã qua sử dụng) thu giữ của Cao Văn D.

Tại cáo trạng số: 124/CT-VKSNT ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Cao Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cao Văn D mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên:

  • Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (có khối lượng: 0,2262 gam đã được niêm phong số 175/KL-KTHS có chữ ký ghi tên Phạm Thị Hương M và dấu tròn màu đỏ Phòng K Công an tỉnh Đ).
  • Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động màu hồng hiệu S, 01 điện thoại di động màu đỏ hiệu Oppo là tài sản hợp pháp của D không liên quan đến hành vi phạm tội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên Tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo Cao Văn D không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo nói lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ định tội danh và điều luật áp dụng:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 12 giờ ngày 19/01/2024, tại ấp B, xã P, huyện N, Cao Văn D đã có hành vi tàng trữ 0.2561 gam ma túy, loại M1 để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2561 gam, loại Methamphetamine.” Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Cao Văn D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu lợi ích cá nhân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, đồng thời nó cũng là nguyên nhân phát sinh những loại tội phạm khác.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt:

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thủ tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định đã được đóng gói niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu số 175/KL – KTHS có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Hương M..
  • Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động màu hồng hiệu S, 01 điện thoại di động màu đỏ hiệu Oppo.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch về tội danh và Điều luật áp dụng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt cao so với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố bị cáo Cao Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Cao Văn D: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thủ tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định đã được đóng gói niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu số 175/KL – KTHS có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị Hương M.
    • Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại di động màu hồng hiệu S, 01 điện thoại di động màu đỏ hiệu Oppo.

    (Số vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/5/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:

    Buộc bị cáo Cao Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ THỊ OANH

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Văn Dũng tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger