Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31 – 5 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Ảnh

Ông Hồ Thanh Phong

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Hồng N, sinh năm 1990.

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Thành Lập, xã Tân Đức, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Bùi Hoàng Đ, sinh năm 1990.

Địa chỉ cư trú: Ấp Tân Thành Lập, xã Tân Đức, huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2024 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Lý Hồng N trình bày:

Về hôn nhân: Bà N với ông Đ chung sống vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Đức, huyện Đ, tỉnh C. Quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm do ông Đ không quan tâm lo lắng gia đình và thường xuyên uống rượu, mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải, hàn gắn nhưng ông Đ không khắc phục dẫn đến vợ chồng ly thân 04 năm. Nay, bà N xác định không thể tiếp tục chung sống cùng ông Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bùi Quốc Đ, sinh ngày 28/02/2018 và Lý Bảo Y, sinh ngày 20/01/2021, hiện hai trẻ đang chung sống cùng bà N. Khi ly hôn, bà N yêu cầu tiếp tục nuôi hai con; việc cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà N xác định không có.

- Đối với bị đơn ông Bùi Hoàng Đ: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Đ theo quy định pháp luật, nhưng ông Đ không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Vào ngày 06/5/2024 bà N có đơn xin vắng mặt; ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân. Bà N và ông Đ chung sống với nhau vào năm 2017, ngày 13/9/2017 ông bà đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận số 80/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Đức, huyện Đ, tỉnh C, hôn nhân ông bà hợp pháp.

Xét bà N yêu cầu ly hôn với ông Đ thấy rằng, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Đ nhiều lần để tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông Đ vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà N. Ngoài ra, bà N xác định vợ chồng ông bà đã ly thân 04 năm, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà N với ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà N về việc ly hôn với ông Đ.

[3] Về nuôi con chung: Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi trẻ Bùi Quốc Đ, sinh ngày 28/02/2018 và trẻ Lý Bảo Y, sinh ngày 20/01/2021. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, từ khi ông bà ly thân đến nay trẻ Đ và trẻ Y được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định, để không làm thay đổi môi trường sống của các trẻ nên giao trẻ Đ và trẻ Y cho bà Nghi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Bùi Hoàng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[6] Về nợ chung: Bà N xác định không có.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà N phải chịu án phí 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 2 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Hồng N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lý Hồng N ly hôn với ông Bùi Hoàng Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Bùi Quốc Đ, sinh ngày 28/02/2018 và trẻ Lý Bảo Y, sinh ngày 20/01/2021 cho bà Lý Hồng N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Bùi Hoàng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lý Hồng N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000974 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Lý Hồng N và ông Bùi Hoàng Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Ủy ban nhân dân xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VT.Tòa án Đầm Dơi.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Giang Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 133/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 2 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Hồng Nghi. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lý Hồng Nghi ly hôn với ông Bùi Hoàng Đệ. 2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Bùi Quốc Đại, sinh ngày 28/02/2018 và trẻ Lý Bảo Yến, sinh ngày 20/01/2021 cho bà Lý Hồng Nghi trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Bùi Hoàng Đệ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lý Hồng Nghi phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nghi đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0000974 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Nghi đã nộp đủ án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bà Lý Hồng Nghi và ông Bùi Hoàng Đệ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger