|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 133/2025/HS-ST Ngày: 26-6-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Ngọc Hòa - Giáo viên hưu trí phường Trần Phú, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bà Trần Thị Phối- Cán bộ hưu trí phường Trần Phú, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2025/HSST ngày 09/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HS ngày 13/6/2025 đối với các bị cáo:
- Tô Duy Đ; Tên gọi khác: không, giới tính: N, Sinh năm 1999, tại phường T, thành phố Q; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường T, TP Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Tô T, sinh năm 1969 và bà Phan Thị H, sinh năm 1970; Có vợ là Chế Phan Phương T1, sinh năm 1999; Có 01 người con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú".
- Nguyễn Văn N1; Tên gọi khác: không, giới tính: N, sinh năm 2004 tại thành phố Q; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố I, phường T, TP Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Mua bán điện thoại; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Nguyễn Văn T2 ( đã chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Em Huỳnh Tấn T3, sinh ngày 27/4/2008; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường T, TP ., T. B; có mặt.
- Chị Chế Phan Phương T1, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Khu phố P, P. B, thị xã H, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Ông Tô T, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường T, TP ., T. B; có mặt.
- Bà Phan Thị H, sinh năm 1970, Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường T, TP ., T. B; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố I, phường T, TP ., T. B; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dưới 18 tuổi em Huỳnh Tấn T3: Ông Huỳnh Tấn S, sinh năm 1970 (là cha đẻ của em T3); Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường T, TP ., T. B; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2024, Tô Duy Đ lên mạng xã hội facebook đặt mua từ tài khoản tên “Quốc Huy” 05 hộp pháo hoa nổ với giá 650.000 đồng/01 hộp, giao hàng bằng hình thức COD với tổng số tiền là 3.250.000 đồng. Khoảng 03 ngày sau, nhân viên giao hàng (không rõ lai lịch) giao 01 kiện hàng tại nhà của Đ ở tổ E, khu phố A, phường T, thành phố Q, Đ thanh toán số tiền 3.250.000 đồng. Sau đó, Đ đem số pháo hoa nổ này cất giấu trên gác và dự định để đến gần tết năm 2025 sẽ bán lại kiếm lời. Sau khi đặt mua, Đ xóa hết các dữ liệu liên hệ với người bán pháo hoa.
Khoảng giữa năm 2024, Đ nảy sinh ý định chế tạo pháo nổ để Tết bán kiếm tiền nên tự lên mạng xã hội tìm hiểu cách chế tạo, sản xuất pháo nổ và lên các trang mạng xã hội như Facebook, T5, S1,... tự đặt mua các nguyên liệu để sản xuất pháo bao gồm: giấy cuộn sẵn làm vỏ pháo; thuốc pháo trộn sẵn; bột lưu huỳnh, bột nhôm, bột KClO3 (Kali Clorat) làm thuốc pháo và mua dây cháy chậm làm ngòi pháo. Nguyên liệu được các nhân viên giao hàng (không xác định) đem đến nhà giao trực tiếp cho Đ. Trong tháng 11/2024, khi mua đủ các nguyên liệu để chế tạo pháo nổ thì Đ bắt đầu chế tạo pháo nổ bằng cách trộn các nguyên liệu mua được theo tỷ lệ 01 phần KClO3, 01 phần bột nhũ (bột nhôm) để tạo thành thuốc pháo hoặc lấy thuốc pháo đã trộn sẵn nhồi vào các cuộn giấy vỏ pháo hình trụ, sau đó, gắn dây cháy chậm và dán kín các đầu cuộn giấy. Đ có đốt thử các viên pháo do Đ chế tạo thì thấy pháo có phát nổ nên tiếp tục chế tạo nhiều thêm để tết năm 2025 bán. Đến ngày 16/12/2024, Đ đã chế tạo, sản xuất được 684 viên pháo nổ thành phẩm với nhiều kích thước khác nhau.
Sau khi mua được 05 hộp pháo hoa nổ như nêu trên và tự sản xuất được pháo nổ thì Đ có nói với một số người bạn của Đ là Đ biết chỗ bán pháo, nếu có ai cần mua pháo chơi tết thì nói Đ mua giúp, mục đích là lấy pháo của Đ để đi bán. Khoảng 16h, ngày 16/12/2024, một người nam (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên “Bé” liên hệ với Đ hỏi mua 04 hộp pháo hoa nổ. Đ biết Nguyễn Văn N1 cũng bán pháo hoa nổ nên Đ liên hệ với N1 hỏi mua 04 hộp pháo hoa nổ thì N1 báo giá là 800.000 đồng/01 hộp. Khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 16/12/2024, N1 lấy 04 hộp pháo hoa bỏ vào bì đen và cho vào cốp xe Honda SH gắn biển số 77L2-454.00 của chị ruột là Nguyễn Thị Thu T4 chở qua giao tại nhà Đ. Đ nói với N1 để Đ đi giao pháo xong lấy tiền sẽ trả cho N1. Do trời mưa, sợ pháo bị ướt nên Đ mang 04 hộp pháo hoa bỏ vào 01 thùng xốp rồi dán kín. Khoảng 18h50' cùng ngày, Huỳnh Tấn T3 đi bộ qua nhà Đ để chuẩn bị nhậu với Đ nên Đ nhờ T3 chở thùng xốp đến địa điểm “sân bắn” thuộc khu phố F, phường T, thành phố Q giao cho người nam tên “Bé”. Đ nói T3 lấy xe mô tô gắn máy biển số 77C1-757.98 của vợ Đ để đi giao và nói khi nào đến nơi thì gọi cho Đ để Đ gọi người ra nhận.
Khoảng 19h cùng ngày, khi Huỳnh Tấn T3 đang điều khiển xe chở theo thùng xốp bên trong có chứa 04 hộp pháo hoa nổ nêu trên đến đoạn đường bê tông thuộc Tổ A, khu phố F, phường T, thành phố Q thì bị Công an thành phố Q kiểm tra phát hiện. Đến khoảng 20h ngày 16/12/20204, khi lực lượng công an đến nhà Đ làm việc thì Đ đã khai nhận hành vi mua bán pháo của mình và giao nộp 05 hộp pháo hoa nổ; 264 viên pháo nổ hình trụ dài 06cm, đường kính 02cm, vỏ màu đỏ; 313 viên pháo nổ hình trụ dài 05cm, đường kính 1.5cm, vỏ màu đỏ; 107 viên pháo nổ hình trụ dài 05cm, đường kính 1.8cm, vỏ màu đỏ cùng các nguyên liệu, dụng cụ dùng để chế tạo pháo nổ khác mà Đ đang cất giấu trên gác trong nhà.
Sáng ngày 17/12/2024, Nguyễn Văn N1 đến Công an phường T, thành phố Q đầu thú, khai nhận hành vi bán 04 hộp pháo hoa nổ cho Tô Duy Đ vào tối ngày 16/12/2024.
Về nguồn gốc 04 hộp pháo hoa nổ, Nguyên khai nhận như sau: Khoảng đầu tháng 11/2024, trong lúc uống cà phê ở một quán cà phê (không rõ địa chỉ) gần Ngã 3 P, thành phố Q, N1 nghe thấy một người nam (không rõ lai lịch) làm nghề lái xe tải đang dừng xe nghỉ uống cà phê nói có bán pháo hoa với giá tiền 700.000 đồng/01 hộp nên N1 hỏi mua và trả số tiền 2.800.000 đồng. Sau đó, N1 cầm 04 hộp về nhà cất giấu để dự định tết năm 2025 đốt. Tuy nhiên, sau đó do đang cần tiền nên N1 nói với Đ là có biết người bán pháo, nếu Đ có nhu cầu thì để N1 liên hệ lấy cho, thực tế là để N1 bán 04 hộp pháo đã mua lấy tiền sử dụng. Sau đó, N1 đã bán cho Đ 04 hộp pháo hoa nổ như trên.
Tại Kết luận giám định số 593/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- 01 khối hộp có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy màu, in hoa văn, chữ nước ngoài và dòng chữ, số “KS4-4911”, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau (ký hiệu A1) gửi giám định là pháo hoa nổ, khối lượng là 1,8kg.
- 01 khối hộp có kích thước (17x17x10)cm, loại đúc liền khối, bên ngoài bọc giấy màu, in hoa văn, chữ nước ngoài và dòng chữ, số “KS4-4911X”, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau (ký hiệu A2) gửi giám định là pháo hoa nổ, khối lượng là 1,6kg.
- 02 khối hộp, mỗi khối có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy màu, in hoa văn, chữ nước ngoài và dòng chữ, số “KS4-4911KL”, bên trong mỗi khối hộp có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau (ký hiệu A3) gửi giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 3,3kg.
- 264 vật hình trụ gói bằng giấy màu đỏ dài 06cm, đường kính 02cm, một đầu gắn đoạn dây nhựa dài khoảng 4cm, một đầu dán kín, trên thân có in chữ tiếng Việt (ký hiệu A4) gửi giám định đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 3,3kg.
- 107 vật hình trụ gói bằng giấy màu đỏ dài 05cm, đường kính 1,8cm, một đầu gắn đoạn dây nhựa dài khoảng 4cm, một đầu dán kín, trên thân có in chữ tiếng Việt (ký hiệu A5) gửi giám định đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 0,9kg.
- 313 vật hình trụ gói bằng giấy màu đỏ dài 05cm, đường kính 1cm, một đầu gắn đoạn dây nhựa dài khoảng 4cm, một đầu dán kín, trên thân có in chữ tiếng Việt (ký hiệu A6) gửi giám định đều là pháo nổ, tổng khối lượng là 1,6kg.
- 05 khối hộp, mỗi khối có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy màu, in hoa văn, chữ nước ngoài (02 hộp dòng chữ, số “KS4-4911X” và 03 hộp dòng chữ, số “KS4-4911”, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn vỏ giấy được liên kết với nhau (ký hiệu A7) gửi giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 8,7kg.
- 08 đoạn dây nhựa, mỗi dây dài khoảng 120cm, bên trong chứa chất bột màu xám (ký hiệu A8) gửi giám định là dây ngòi pháo, khối lượng là 0,1kg.
- Chất bột màu vàng (ký hiệu A9) đựng bên trong 01 bịch ni lông trong suốt gửi giám định là S (Lưu huỳnh), khối lượng là 0,2kg, là nguyên liệu thường được dùng để sản xuất thuốc pháo.
- Chất bột màu trắng (ký hiệu A10) đựng bên trong 01 bịch ni lông trong suốt gửi giám định là KC1O3 (Kali Clorat), khối lượng là 0,3kg, là nguyên liệu thường được dùng để sản xuất thuốc pháo.
- Chất bột màu xám (ký hiệu A11) đựng bên trong 01 bịch ni lông màu xanh gửi giám định là A (B), khối lượng là 0,5kg, là nguyên liệu thường được dùng để sản xuất thuốc pháo.
- Chất bột màu xám (ký hiệu A12) đựng bên trong 03 lọ nhựa gửi giám định là thuốc pháo có thành phần gồm: KC1O3 (Kali Clorat), S (Lưu huỳnh), A1 (B), khối lượng là 0,9kg.
Quá trình điều tra, các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tạm giữ:
- 03 khối hộp pháo hoa nổ khối lượng là 4,6kg đựng trong 01 thùng xốp dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 618 viên pháo nổ tổng khối lượng là 5,1kg đựng trong 03 thùng xốp dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 04 khối hộp pháo hoa nổ tổng khối lượng là 6,4kg đựng trong 01 thùng giấy dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 08 đoạn dây nhựa là dây ngòi pháo, khối lượng là 0,1kg đã giám định hết; Bột màu vàng là Lưu huỳnh, còn lại 0,1kg; bột màu trắng là KclO3 (Kali Clorat) còn lại 0,2kg; bột màu xám đựng trong bì ni lông màu xanh là A (bột nhôm), khối lượng là 0,3kg; bột màu xám đựng trong 03 lọ nhựa là thuốc pháo, thành phần gồm: Lưu huỳnh, KelO3 và bột nhôm, còn lại tổng khối lượng là 0,6kg đựng trong 01 thùng giấy dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 02 thau nhựa màu đỏ, đường kính mỗi thau 33cm; 02 muỗng kim loại; 01 phễu nhựa tròn màu xanh; 01 ray bằng kim loại; 01 kéo kim loại; 01 kìm kim loại được đựng trong 01 thùng giấy cát tông dán kín, được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ Công an thành phố Q, có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T7, Phan Thanh L1, Tô Duy Đ, Trần Văn T8 và ghi số 07.
- 01 xe mô tô gắn biển số 77C1-757.98, nhãn hiệu Yamaha Grande, màu sơn: Trắng, có Giấy chứng nhận đăng ký xe số 001996 do Phòng C - Công an T cấp ngày 26/8/2020, tên chủ xe là Chế Phan Phương T1 (vợ của Tô Duy Đ).
- 01 điện thoại Iphone 12 Pro, màu xám; số máy: MGM53J/A; Số seri: F17F7GB60D8G của bà Phan Thị H, là mẹ ruột của Đ.
Về xử lý vật chứng: Ngày 24/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã ra Quyết định trả lại: 01 xe mô tô 77C1-757.98 đặc điểm như trên cho bà Chế Phan Phương T1; 01 điện thoại Iphone 12 Pro đặc điểm như trên cho bà Phan Thị H.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSQN ngày 06/6/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Cáo trạng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo Đ và N1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của địa phương); Bị cáo N1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tô Duy Đ từ 18 đến 24 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ pháo hoa nổ, pháo nổ thu giữ được và các vật dụng thu giữ được mà bị cáo Đ sử dụng để tự chế tạo pháo nổ.
Các bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của các bị cáo là sai và rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có điều kiện đi làm, giúp đỡ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP Quy Nhơn đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, do đó đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
- Bị cáo Tô Duy Đ, xuất phát từ ý định mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời nên vào khoảng tháng 3/2024, bị cáo Đ có hành vi mua của tài khoản tên “Quốc Huy” 05 hộp pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 8,7kg với giá 650.000đồng/01 hộp, thành tiền là 3.250.000 đồng (không xác định được người bán pháo) và mua của bị cáo Nguyễn Văn N1 04 hộp pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 6,7 kg, vào tối ngày 16/12/2024 tại tổ E, khu phố A, phường T, TP Q. Ngoài ra, do bị cáo Đ có ý định chế tạo pháo nổ để bán kiếm tiền nên bị cáo Đ thông qua mạng xã hội tìm hiểu cách chế tạo, sản xuất pháo nổ và tự đặt mua các nguyên liệu để sản xuất pháo (bao gồm: giấy cuộn sẵn làm vỏ pháo, thuốc pháo trộn sẵn, bột lưu huỳnh, bột nhôm, bột KClO3 (Kali Clorat) làm thuốc pháo và mua dây cháy chậm làm ngòi pháo), bị cáo Đ đã có hành vi sản xuất 684 viên pháo nổ có tổng khối lượng là 5,8kg pháo nổ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Tổng khối lượng pháo hoa nổ và pháo nổ bị cáo Đ mua và sản xuất là 15,4kg pháo hoa nổ và 5,8kg pháo nổ.
- Bị cáo Nguyễn Văn N1 đã có hành vi bán 04 pháo hoa nổ cho bị cáo Tô Duy Đ, có tổng khối lượng 6,7kg, với giá 800.000 đồng/01 hộp nhưng chưa thu tiền.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội "Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 về tội "Buôn bán hàng cấm "theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Các bị cáo có đầy đủ sức khỏe, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ pháo là mặt hàng bị nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh, sử dụng khi không được phép nhưng vì muốn hưởng lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy nên cần phải xử phạt các bị cáo tương xứng với hành vi do các bị cáo gây ra.
Vụ án có 02 bị cáo, xét vai trò từng bị cáo: Bị cáo Đ là người có hành vi mua 05 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 8,7kg (không xác định được người bán pháo) và mua 04 hộp pháo hoa nổ, khối lượng 6,7 kg của bị cáo Nguyễn Văn N1 nhằm mục đích để bán lại kiếm lời. Ngoài ra bị cáo Đ còn có hành vi sản xuất 684 viên pháo nổ với tổng khối lượng là 5,8kg pháo nổ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời. Tổng khối lượng pháo hoa nổ, pháo nổ bị cáo Đ mua và sản xuất nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời là 15,4kg pháo hoa nổ và 5,8kg pháo nổ. Bị cáo N1 là người có hành vi bán 04 hộp pháo hoa nổ, khối lượng là 6,7kg pháo hoa nổ cho bị cáo Đ nhằm mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa thu tiền. Do tổng khối lượng pháo nổ bị cáo Đ mua và sản xuất nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời nhiều hơn nên hình phạt của bị cáo Đ cao hơn bị cáo N1.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy:
4.1 Về nhân thân: Các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 có nhân thân tốt.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo đều lần đầu phạm tội; Đối với bị cáo Đ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ (sinh năm 2024), vợ chưa có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương); Đối với bị cáo N1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú và có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, trong suốt quá trình tại ngoại, các bị cáo chấp hành tốt các yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện các bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo và không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, xử các bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để các bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ hai mươi triệu đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nghề nghiệp thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 03 khối hộp pháo hoa nổ khối lượng là 4,6kg đựng trong 01 thùng xốp dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L; 618 viên pháo nổ tổng khối lượng là 5,1kg đựng trong 03 thùng xốp dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L; 04 khối hộp pháo hoa nổ tổng khối lượng là 6,4kg đựng trong 01 thùng giấy dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L; 08 đoạn dây nhựa là dây ngòi pháo, khối lượng là 0,1kg đã giám định hết; Bột màu vàng là Lưu huỳnh, còn lại 0,1kg; bột màu trắng là KclO3 (Kali Clorat) còn lại 0,2kg; bột màu xám đựng trong bì ni lông màu xanh là A (bột nhôm), khối lượng là 0,3kg; bột màu xám đựng trong 03 lọ nhựa là thuốc pháo, thành phần gồm: Lưu huỳnh, KclO3 và bột nhôm, còn lại tổng khối lượng là 0,6kg đựng trong 01 thùng giấy dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L; 02 thau nhựa màu đỏ, đường kính mỗi thau 33cm; 02 muỗng kim loại; 01 phễu nhựa tròn màu xanh; 01 ray bằng kim loại; 01 kéo kim loại; 01 kìm kim loại được đựng trong 01 thùng giấy cát tông dán kín, được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ Công an thành phố Q, có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T7, Phan Thanh L1, Tô Duy Đ, Trần Văn T8 và ghi số 07, là vật Nhà nước cấm lưu hành và các vật dụng bị cáo Đ sử dụng để tự chế tạo pháo nổ nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án về tội “Buôn bán hàng cấm” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về vấn đề khác:
- Đối với Huỳnh Tấn T3, vào tối ngày 16/12/2024 T3 đã có hành vi vận chuyển 04 hộp pháo hoa nổ có khối lượng 6,7kg giúp cho Tô Duy Đ nhưng T3 không biết đó là pháo hoa nổ, T3 không thoả thuận, bàn bạc, tham gia buôn bán pháo hoa nổ cùng Đ nên T3 không đồng phạm với Đ về tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Đối với chị Chế Phan Phương T1 (vợ Đ), ông Tô T (bố Đ), bà Phan Thị H (mẹ Đ), không có bàn bạc, thoả thuận, giúp sức cho Đ về hành vi buôn bán hàng cấm là pháo hoa nổ nên không đồng phạm với Đ về tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Đối với đối tượng nam tên “Bé” đặt mua pháo của Tô Duy Đ và người nam thanh niên bán pháo hoa nổ cho Nguyễn Văn N1, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của hai đối tượng trên nên không có cơ sở xử lý đối với các đối tượng này.
[9] Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Quy Nhơn về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, mức hình phạt xử phạt đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên về đề nghị xử phạt hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Đ là chưa phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, áp dụng cho các bị cáo Tô Duy Đ và Nguyễn Văn N1.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt:
2.1 Xử phạt bị cáo Tô Duy Đ 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N1 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 03 khối hộp pháo hoa nổ khối lượng là 4,6kg đựng trong 01 thùng xốp dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 618 viên pháo nổ tổng khối lượng là 5,1kg đựng trong 03 thùng xốp dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 04 khối hộp pháo hoa nổ tổng khối lượng là 6,4kg đựng trong 01 thùng giấy dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L;
- 08 đoạn dây nhựa là dây ngòi pháo, khối lượng là 0,1kg đã giám định hết;
- Bột màu vàng là Lưu huỳnh, còn lại 0,1kg;
- Bột màu trắng là KclO3 (Kali Clorat) còn lại 0,2kg;
- Bột màu xám đựng trong bì ni lông màu xanh là A (bột nhôm), khối lượng là 0,3kg;
- Bột màu xám đựng trong 03 lọ nhựa là thuốc pháo, thành phần gồm: Lưu huỳnh, KclO3 và bột nhôm, còn lại tổng khối lượng là 0,6kg đựng trong 01 thùng giấy dán kín được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ “Phòng K - Công an tỉnh B”, chữ ký ghi tên Trần Quốc Đ1, Thân Trọng T6, Nguyễn Đăng Tấn L.
- 02 thau nhựa màu đỏ, đường kính mỗi thau 33cm;
- 02 muỗng kim loại;
- 01 phễu nhựa tròn màu xanh;
- 01 ray bằng kim loại; 01 kéo kim loại;
- 01 kìm kim loại được đựng trong 01 thùng giấy cát tông dán kín, được niêm phong bằng giấy trắng, trên giấy có dấu đỏ Công an thành phố Q, có chữ ký ghi tên Nguyễn Trung T7, Phan Thanh L1, Tô Duy Đ, Trần Văn T8 và ghi số 07.
(Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Đội cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an T, nay là Công an tỉnh B theo Quyết định nhập kho vật chứng số 58/LNK-CSĐT(KT) ngày 02/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an T, nay là Công an tỉnh B). Các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có trách nhiệm phối hợp để xử lý, tiêu hủy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự TP Quy Nhơn).
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Tô Duy Đ, Nguyễn Văn N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Kim Anh |
Bản án số 133/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về buôn bán hàng cấm (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 133/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buôn bán hàng cấm
