TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2025/HS-ST Ngày: 18 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Bà Phạm Thị Ngọc Nga
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Đinh Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V sinh ngày 10/8/1980 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm D, phường T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lô Thị X; vợ Nguyễn Thị Phương L (đã ly hôn) và 03 con; tiền án: Bản án số 63/2022/HSST ngày 26/9/2022 Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/9/2023; nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 180/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2013 của Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phạt tiền về hành vi “Đánh nhau, gây rối trật tự công cộng”; bị tạm giữ từ ngày 23/8/2025 đến ngày 01/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 01 Công an tỉnh N, (có mặt).
Người làm chứng: Hoàng Thanh N, (vắng mặt).
Người chứng kiến: ông Đinh Công A, anh Nguyễn Hồng T1, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn V sinh năm 1980, trú tại: xóm D, phường T, tỉnh Ninh Bình là người sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 23/8/2025, khi đang ở nhà bạn tại phường T, tỉnh Ninh Bình do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Văn V đã sử dụng điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng lắp sim số 0986.068.531 của V gọi đến số điện thoại 0916.333.xxx của người đàn ông tên T2 trước đây V từng mua ma túy để hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroine, T2 đồng ý và hẹn V xuống khu nhà C của Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Sau đó, V nhờ anh Hoàng Thanh N sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình là bạn đi cùng với V dùng xe mô tô của anh N chở V đến chỗ hẹn, anh N đồng ý. Khi gần đến nơi, V gọi điện thoại cho T2 thì T2 nói vào sảnh của nhà C. Đến cổng bệnh viện, V xuống xe đi bộ vào trong còn anh N đứng ngoài cổng chờ. Đến sảnh nhà C, thấy T2 đang đứng một mình ở sảnh giữa khu nhà B và nhà C, V đi đến thì T2 đưa cho V 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, biết đó là ma tuý V cầm ở tay trái và lấy số tiền 200.000 đồng ở túi quần đang mặc đưa cho T2, T2 cầm tiền rồi bỏ đi còn V cầm gói ma tuý đi bộ quay lại ra cổng Bệnh viện thì gặp Tổ công tác Công an phường H, tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đó, do sợ hãi nên V đã thả gói ma tuý vừa mua xuống đất cạnh chỗ V đứng thì bị Tổ công tác phát hiện yêu cầu nhặt lên để kiểm tra. Quá trình kiểm tra gói nhỏ trên có đặc điểm được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, V khai nhận là ma túy Heroine vừa mua của một người tên T2 tại khu vực hành lang nối nhà B và C của Bệnh viện Đa khoa tỉnh N với giá tiền 200.000 đồng về để sử dụng cho bản thân. Sau khi kiểm tra, Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma túy Heroine thu giữ của V theo quy định và đưa V về trụ sở Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng. Thu giữ của anh Hoàng Thanh N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 35B2-420.77, số khung: RLHJA3909HY513699, số máy: JA39E-0488872; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen.
Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn V có khối lượng là 0,3121 gam (ký hiệu M) gửi đi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 703/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,3121 gam, là ma tuý, loại Heroine (H).
Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma tuý được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự thứ 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen bên trong lắp sim số 0944912460 thu giữ của anh Hoàng Thanh N. Quá trình điều tra xác định: chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của anh N, anh N không liên quan đến hành vi vi phạm của Nguyễn Văn V. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh N là có căn cứ, đúng pháp luật. Anh N đã nhận lại và không có yêu cầu, đề nghị gì.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 35B2-420.77, số khung: RLHJA3909HY513699, số máy: JA39E-0488872 thu giữ của anh Hoàng Thanh N. Quá trình điều tra xác định: chiếc xe trên là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng anh Hoàng Thanh N và chị Phạm Thị Kim L1 sinh năm 1984, trú tại thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình. Ngày 23/8/2025, anh N sử dụng chiếc xe mô tô trên chở Nguyễn Văn V đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh N nhưng không biết mục đích của V để mua ma túy. Xác minh chủ sở hữu trùng khớp với đăng ký xe do chị L1 và anh N cung cấp, tra cứu chiếc xe mô tô không nằm trong hệ thống xe tang vật toàn quốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chị Phạm Thị Kim L1 là có căn cứ, đúng pháp luật. Chị L1 đã nhận và không có yêu cầu, đề nghị gì.
- - 01 phong bì ký hiệu V niêm phong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng bên trong lắp sim số 0986068531 thu giữ của Nguyễn Văn V; 01 phong bì niêm phong “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 703/KL-KTHS cùng thông tin về vụ việc và vật chứng bên trong là mẫu gửi giám định ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,2567 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong là vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu A1 và 01 mảnh giấy bạc màu trắng. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình đã ra quyết định chuyển vật chứng đến cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSKV1 ngày 16/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình truy tố Nguyễn Văn V ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/8/2025.
- - Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 0,2567 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu A1; 01 mảnh giấy bạc màu trắng và sim số 0986068531 thu của Nguyễn Văn V.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng (mặt trước và sau kính bị rạn nứt) thu của Nguyễn Văn V.
- - Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như nội dung bản cáo trạng; Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan; bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn V tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã thu giữ là 0,3121 gam ma túy loại Heroine; phù hợp với kết luận giám định số 703/ KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Với các chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: hồi 14 giờ 15 phút, ngày 23/8/2025 tại khu vực hành lang nhà B của Bệnh viện đa khoa tỉnh N, Nguyễn Văn V đã có hành vi cất giấu 0,3121 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn V đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội là những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp Heroine có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a, ...
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
...”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình truy tố Nguyễn Văn V với tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh, ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân. Để bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là cần thiết.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo là người có nhân thân xấu, thể hiện ngày 30/9/2013 Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình xử lý hành chính phạt tiền về hành vi “Đánh nhau, gây rối trật tự công cộng”; bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo cất giấu, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở lại thành công dân làm ăn lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa đồng thời để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Văn V khai mua của một người đàn ông không quen biết tên T2 ở khu vực hành lang nối nhà B và nhà C của Bệnh viện đa khoa tỉnh N. Kết quả tra cứu thông tin thuê bao số điện thoại 0916.333.xxx của người đàn ông bán ma túy cho V xác định chủ thuê bao là chị Lê Thị Thanh T3 sinh năm 1982, trú tại: thôn V, phường Đ, tỉnh Ninh Bình. Quá trình làm việc, chị T3 khai có đăng ký và sử dụng số thuê bao 0916333250 từ khoảng tháng 04/2016 nhưng khoảng đầu tháng 02/2025 thì không sử dụng nữa do bị rơi mất sim số thuê bao trên. Chị T3 không quen biết với ai tên Nguyễn Văn V, không quen biết với ai tên T2. Do đó, không đủ cơ sở để điều tra xác minh, làm rõ.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Đối với số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao gói niêm phong, mảnh giấy bạc màu trắng, sim số 0986068531 thu giữ của Nguyễn Văn V là vật chứng của vụ án không có giá trị, vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng (mặt trước và sau kính bị rạn nứt) thu giữ của Nguyễn Văn V là phương tiện liên lạc đã dùng vào việc phạm tội nên bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Các nội dung khác:
- - Đối với Hoàng Thanh N là người đã chở V đi mua ma túy: quá trình điều tra, xác định anh N không biết việc V nhờ mình chở đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để mua ma túy và V cũng xác nhận không nói gì với anh N về việc V liên hệ và mua bán ma túy với người tên T2. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Hoàng Thanh N là có căn cứ, đúng pháp luật.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen bên trong lắp sim số 0944912460 thu giữ của anh Hoàng Thanh N. Quá trình điều tra xác định: chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của anh N, anh N không liên quan đến hành vi vi phạm của Nguyễn Văn V. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh N là có căn cứ, đúng pháp luật.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 35B2-420.77, số khung: RLHJA3909HY513699, số máy: JA39E-0488872 thu giữ của anh Hoàng Thanh N. Quá trình điều tra xác định: chiếc xe trên là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng anh Hoàng Thanh N và chị Phạm Thị Kim L1 sinh năm 1984, trú tại thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình. Ngày 23/8/2025, anh N sử dụng chiếc xe mô tô trên chở Nguyễn Văn V đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh N nhưng không biết mục đích của V để mua ma túy. Xác minh chủ sở hữu trùng khớp với đăng ký xe do chị L1 và anh N cung cấp, tra cứu chiếc xe mô tô không nằm trong hệ thống xe tang vật toàn quốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chị Phạm Thị Kim L1 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/8/2025.
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy: 0,2567 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu A1; 01 mảnh giấy bạc màu trắng và sim số 0986068531.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Ninh Bình ngày 23/10/2025).
- Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/11/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hiền |
Bản án số 133/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 133/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn Vinh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
