Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 133/2025/HS-ST

Ngày: 10/4/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu

Ông Nguyễn Văn Hiệp

Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Phùng Đắc Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HS, ngày 12/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐ-HPT ngày 27/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Duy N, sinh năm 1991.

    HKTT: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1967; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: không.

    Tiền án:

    Tại Bản án số 32/2022/HS-ST ngày 16/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/10/2023;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố B - Phòng PC 11 Công an tỉnh B. Có mặt.

  2. Chu Thúc C1, sinh năm 1995;

    HKTT: Tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Thúc T1, sinh năm 1963 và bà Tạ Thị T2, sinh năm 1963; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Có vợ Đoàn Thị Yến N1, sinh năm 2000 và 01 con, sinh năm 2022; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến ngày 22/01/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Mong Thị N2, sinh năm 1998;

    HKTT: Bản Na Cày, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Chị Bùi Thị Phương L, sinh năm 2001;

    HKTT: Khu L, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, Đ Công an thành phố B phối hợp với Công an phường S, thành phố B kiểm tra hành chính tại khách sạn A, địa chỉ: Lô F số B đường H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình kiểm tra phát hiện: Tại phòng 715 có 02 đối tượng tự khai nhận là Yang D, sinh năm 1976, Quốc tịch: Trung Quốc và Mong Thị N2, sinh năm 1998, HKTT: Bản Na Cày, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Phòng 722 có 02 đối tượng tự khai nhận là Wu J, sinh năm 1990, Quốc tịch: Trung Quốc và Bùi Thị Phương L, sinh năm 2001, HKTT: khu L, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang thực hiện hành vi mua, bán dâm.

Quá trình điều tra xác định: Chu Thúc C1, sinh năm 1995, HKTT: Tổ dân phố K, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là nhân viên lễ tân tại khách sạn A, địa chỉ: Lô F số B đường H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng đầu tháng 11/2024, Nguyễn Duy N, sinh năm 1991, HKTT: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến khách sạn A gặp C1 và đặt vấn đề khi nào khách có nhu cầu mua dâm thì gọi điện thoại để N đưa gái bán dâm đến bán dâm, N sẽ cho C1 tiền môi giới, C1 đồng ý và lưu số điện thoại của N.

Khoảng 23 giờ ngày 10/12/2024, C1 đang ở quầy lễ tân thì có Yang Danling và Wu J đều Quốc tịch: Trung Quốc đến bảo C1 tìm cho 02 gái bán dâm để mua dâm, C1 đồng ý và thỏa thuận giá 2.500.000 đồng/người/lần, Wu J đưa cho C1 5.000.000 đồng. Sau đó, C1 gọi điện thoại bảo N đưa 02 gái bán dâm đến khách sạn A bán dâm. N đồng ý rồi thuê tắc xi đưa Mong Thị N2, Bùi Thị Phương L đến khách sạn A để bán dâm. Khi đến khách sạn A, C1 đưa cho N 5.000.000 đồng thì N trích lại cho C1 1.500.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, khi Y và N2 đang thực hiện mua bán dâm tại phòng 715, Wu J và L đang thực hiện mua bán dâm tại phòng 722 khách sạn A thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

Cùng ngày 11/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Duy N.

* Việc thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ:

  • Thu giữ tại phòng 715: 02 bao cao su (01 đã qua sử dụng và 01 chưa sử dụng) và số tiền 1.000.000 đồng do N2 giao nộp;
  • Thu giữ tại phòng 722: 02 bao cao su (01 đã qua sử dụng và 01 chưa sử dụng) và số tiền 500.000 đồng do L giao nộp;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 353135100724068 đã qua sử dụng, lắp sim số 0348.005.352; số tiền 3.500.000 đồng do N giao nộp.
  • 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu vàng, số IMEI: 358165604379692, lắp sim số 0346.654.345 đã qua sử dụng; số tiền 1.500.000 đồng do C1 giao nộp.
  • 01 đĩa DVD bên trong lưu giữ 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của khách sạn A1 ghi lại hình ảnh C1 trao đổi, nhận tiền mua bán, dâm với khách và khi đưa tiền cho N.

Quá trình điều tra Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 78/CT-VKSTPBN ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1 về tội “Môi giới mại dâm” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Chu Thúc C1 trình bày: C1 là nhân viên lễ tân tại khách sạn A, do chị Trần Thị H, sinh năm 1996, HKTT: khu dân cư S, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương và anh Wen C2, sinh năm 2001, HKTT: Phòng 103, tòa nhà E, tiểu khu Q, phố K, khu K, thành phố T, tỉnh Chiếc Giang, Trung Quốc làm chủ. Nhiệm vụ của C1 là kiểm soát khách ra vào khách sạn, nhận khách, bố trí phòng và thu tiền khi khách đến thuê phòng. Khoảng đầu tháng 11/2024, Nguyễn Duy N đến khách sạn A gặp C1 và đặt vấn đề khi nào khách có nhu cầu mua dâm thì gọi điện thoại để N đưa gái bán dâm đến bán dâm, N sẽ cho C1 tiền môi giới, C1 đồng ý.

Khoảng 23 giờ ngày 10/12/2024, C1 đang ở quầy lễ tân tầng 1 khách sạn Atour Phoenix Hotel thì Yang D, sinh năm 1976 và Wu J, sinh năm 1990, đều Quốc tịch: Trung Quốc, HKTT: C, Đ, V, Trung Quốc đến bảo C1 gọi cho 02 gái bán dâm đến phòng 715 và phòng 722 để mua dâm (Yang Danling thuê phòng 715, W thuê phòng 722 tại khách sạn từ trước). C1 đồng ý và hỏi “đi tàu nhanh hay đi qua đêm” thì Y1 DanLing và Wu J bảo “đi nhanh”, C1 bảo đi nhanh giá 2.500.000 đồng/1 người/1 lần, Y1 DanLing và W đồng ý, Wu J đưa cho C1 5.000.000 đồng, C1 cầm tiền rồi bảo Yang DanLing và Wu J lên phòng chờ. Sau đó, C1 sử dụng điện thoại Iphone 14 Promax, lắp sim số 0346.654.345 của C1 gọi điện đến số 0348.005.352 của N nói “Có hai khách Trung Quốc tìm gái đi tàu nhanh”, N hiểu ý của C1 là có 02 khách người Trung Quốc đang thuê phòng tại khách sạn A có nhu cầu mua dâm với gái bán dâm nên N đồng ý. Cùng lúc này, N đang ở phòng trọ tại thôn M, thị trấn N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cùng Mong Thị N2 và Bùi Thị Phương L, N bảo với N2 và L “thay quần áo đi làm có khách” ý bảo N2 và L đi bán dâm thì N2, L đồng ý (Nga và L là gái bán dâm, ăn ở tại phòng trọ của N và thỏa thuận mỗi lần bán dâm nếu đi nhanh Nhất cho 500.000 đồng/lần/người, còn qua đêm được 800.000 đồng - 1.000.000 đồng/lần/người). Sau đó, N gọi xe tắc xi của anh Phạm Văn H1, sinh năm 1976, HKTT: thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang đưa N cùng N2 và L đến khách sạn A1. Khi đến nơi, N ngồi trên xe tắc xi đợi ở ngoài cửa khách sạn còn L và N2 đi vào quầy lễ tân nói “đi cùng anh N” thì C1 bảo N2 lên phòng 715, L lên phòng 722 để bán dâm. Sau khi L và N2 đi lên phòng bán dâm thì N đi vào quầy lễ tân, C1 đưa cho N 5.000.000 đồng tiền W đưa trước đó, N cầm tiền và đưa lại cho C1 1.500.000 đồng (tiền công C1 giới thiệu khách mua dâm) rồi đi ra cửa khách sạn đợi. Khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày 11/12/2024, khi Y1 DanLing mua bán dâm với Mong Thị N2 tại phòng 715; Wu Jiangwen mua bán dâm với Bùi Thị Phương L tại phòng G thì lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang

Bị cáo N trình bày: Lời khai của bị cáo C1 là đúng. Khoảng đầu tháng 11/2024, Nguyễn Duy N đến khách sạn A gặp C1 và đặt vấn đề khi nào khách có nhu cầu mua dâm thì gọi điện thoại để N đưa gái bán dâm đến bán dâm, N sẽ cho C1 tiền môi giới. Khi C1 gọi điện thoại cho N thì N đã gọi L và N2 bán dâm, Nhất là người trực tiếp môi giới mại dâm, nhận số tiền 5.000.000 đồng và đưa lại cho C1 1.500.000 đồng tiền hoa hồng.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Mong Thị N2 và chị Bùi Thị Phương L vắng mặt tại phiên tòa, lời khai tại CQCSĐT thể hiện: Nga và L là gái bán dâm, N2 đã nhận được 1.000.000 đồng và L đã được nhận 500.000 đồng từ khách mua dâm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo: Nguyễn Duy N, Chu Thúc C1 về tội “Môi giới mại dâm”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1 phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Duy N từ 48 đến 54 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2024.

Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Chu Thúc C1 từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 11/12/2024 đến ngày 22/01/2025.

Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo N và C1.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 bao cao su chưa sử dụng; 01 sim điện thoại số 0348.005.xxx, 01 sim điện thoại số 0346.654.xxx.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 353135100724068 đã qua sử dụng, của bị cáo N; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu vàng, số IMEI: 358165604379692 đã qua sử dụng của bị cáo C1; Số tiền 3.500.000 đồng do N giao nộp, số tiền 1.500.000 đồng do C1 giao nộp, số tiền 1.000.000 đồng do N2 giao nộp và số tiền 500.000 đồng do L giao nộp.

Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu giữ 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của khách sạn A1.

Về án phí: Các bị cáo N và C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an thành phố B, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

  2. Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:

    Khoảng tháng 11/2024, Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1 là nhân viên lễ tân khách sạn A, địa chỉ: Lô F số B đường H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thỏa thuận với nhau nếu có khách muốn mua dâm tại khách sạn A thì C1 sẽ gọi điện thoại cho N để nhất đưa gái bán dâm đến bán dâm, N sẽ trả tiền hoa hồng cho C1.

    Khoảng 23 giờ ngày 10/12/2024, C1 đang ở quầy lễ tân thì có Yang Danling và Wu J đều Quốc tịch: Trung Quốc đến bảo C1 tìm cho 02 gái bán dâm để mua dâm, C1 đồng ý và thỏa thuận giá 2.500.000 đồng/người/lần, Wu J đưa cho C1 5.000.000 đồng. Sau đó, C1 gọi điện thoại bảo N đưa 02 gái bán dâm đến khách sạn A bán dâm. N đồng ý rồi thuê tắc xi đưa Mong Thị N2, Bùi Thị Phương L đến khách sạn A để bán dâm. Khi đến khách sạn A, C1 đưa cho N 5.000.000 đồng thì N trích lại cho C1 1.500.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, khi Y và N2 đang thực hiện mua bán dâm tại phòng 715, Wu J và L đang thực hiện mua bán dâm tại phòng 722 khách sạn A thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

    Vì vậy hành vi của các bị cáo Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1 đã phạm tội “Môi giới mại dâm” quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 328 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, chà đạp lên nhân phẩm, sức khoẻ của người phụ nữ. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng là nguyên nhân lây nhiễm các loại virus gây bệnh lây truyền nguy hiểm mà dư luận xã hội luôn lên án, bài trừ tệ nạn này.

    Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn. Các bị cáo cùng thống nhất thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo N và bị cáo C1 có vai trò ngang nhau, vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tưng xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  3. Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo N có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo C1 có ông ngoại là Tạ Văn S được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, do đó bị cáo C1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về hình phạt bổ sung:

    Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục địch thu lợi bất chính, vì vậy phạt bổ sung các bị cáo N và C1, mỗi bị cáo 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
  4. Về vật chứng:

    02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 bao cao su chưa sử dụng; 01 sim điện thoại số 0348.005.xxx, 01 sim điện thoại số 0346.654.xxx là vật sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

    01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 353135100724068 đã qua sử dụng, của bị cáo N; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu vàng, số IMEI: 358165604379692 đã qua sử dụng của bị cáo C1 là vật sử dụng vào việc phạm tội, vẫn còn giá trị sử dụng, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Số tiền 3.500.000 đồng do N giao nộp; Số tiền 1.500.000 đồng do C1 giao nộp; Số tiền 1.000.000 đồng do N2 giao nộp và số tiền 500.000 đồng do L giao nộp là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    01 đĩa DVD lưu giữ 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của khách sạn A1 ghi lại hình ảnh C1 trao đổi, nhận tiền mua bán, dâm với khách và khi đưa tiền cho N: đây là chứng cứ trong vụ án cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

  5. Liên quan trong vụ án:

    Đối với hai đối tượng mua dâm tự khai nhận tên Wu J, sinh năm 1990 và Yang D, sinh năm 1976, đều Quốc tịch: Trung Quốc, HKTT đều ở: C, Đ, V, Trung Quốc, chỗ ở: xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Quá trình lấy lời khai tại trụ sở Công an thành phố B lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh trên địa bàn xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang không có ai có tên, tuổi và lý lịch như Wu J và Yang D đã khai nên chưa xác định được lai lịch của các đối tượng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

    Đối với anh Wen Cheng X, chị Trần Thị H là chủ khách sạn A, chị Vũ Thị Q, sinh năm 1988, HKTT: thôn P, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên là quản lý khách sạn A và anh Phạm Văn H1 là lái xe Taxi chở N, N2, L đến khách sạn A. Anh Wen Cheng X, chị H, chị Q và anh H1 không biết việc C1 và Nhất môi G đưa gái bán dâm đến khách sạn A thực hiện hành vi mua, bán dâm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xem xét xử lý là phù hợp.

    Đối với Mong Thị N2 và Bùi Thị Phương L có hành vi bán dâm; Wen Cheng X là Giám đốc - Người đại diện theo pháp luật của khách sạn A để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm tại cơ sở kinh doanh do mình quản lý và hoạt động kinh doanh nghành, nghề có điều kiện về an ninh, trật tự khi chưa được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Ngày 04/3/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh B ra quyết định xử lý hành chính, hình thức phạt tiền là phù hợp.

  6. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1 phạm tội “Môi giới mại dâm”.

    • - Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Duy N 54 (năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2024.
    • Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Duy N 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (10/4/2025) để đảm bảo thi hành án.
    • - Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Chu Thúc Cường từ 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 11/12/2024 đến ngày 22/01/2025.
    • Áp dụng khoản 4 điều 328 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1, mỗi bị cáo 10.000.000 (mười) đồng sung ngân sách nhà nước.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 bao cao su chưa sử dụng; 01 sim điện thoại số 0348.005.xxx, 01 sim điện thoại số 0346.654.xxx.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng, số IMEI 353135100724068 đã qua sử dụng của bị cáo N; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu vàng, số IMEI: 358165604379692 đã qua sử dụng của bị cáo C1; Số tiền 3.500.000 đồng do N giao nộp, số tiền 1.500.000 đồng do C1 giao nộp, số tiền 1.000.000 đồng do N2 giao nộp và số tiền 500.000 đồng do L giao nộp.

    (Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/02/2025 của CQCSĐT Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

    Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong lưu giữ 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của khách sạn A1.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

    Các bị cáo Nguyễn Duy N và Chu Thúc C1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn LưuVũ Thu Trang
Nguyễn Văn Hiệp

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 133/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger