|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2025 V/v: Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm: 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1986; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang lao động tự do tại Đài Loan. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Thanh Đ tự do tìm hiểu, đi đến hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 17 tháng 11 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc tại địa phương. Đến năm 2020, anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu, vợ chồng vẫn thường liên lạc nhưng đến tháng 6/2022, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Đ có mối quan hệ với người phụ nữ khác, không gửi tiền về nuôi con, không chăm lo cho vợ con nên vợ chồng cãi vã và không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đặng Thị H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Đặng C, sinh ngày 08/6/2009; cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2013; cháu Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 16/8/2016. Khi ly hôn, Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con chung, không đề nghị anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ đang lao động tự do tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương cũng như thông qua người thân của anh Đ nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của anh Đ. Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ1 trong ba ngày liên tiếp 09, 10, 11/4/2025 để thông báo cho anh Nguyễn Thanh Đ có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, anh Đ không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, Toà án không thu thập được ý kiến cũng như lời khai của anh Đ, không tiến hành hoà giải vụ án được.
Tại Biên bản xác minh ngày 07/5/2025, đại diện Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp thông tin như sau: Anh Nguyễn Thanh Đ hiện nay đăng ký cư trú tại địa phương. Việc vợ chồng anh Đ, chị H có mâu thuẫn gì hay không thì chính quyền địa phương không nắm được do không có tin báo.
Tòa án cũng đã xác minh thông tin đối với anh Nguyễn Thanh S (anh trai của anh Nguyễn Thanh Đ), anh S cho biết anh Đ hiện đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan, có liên lạc về với gia đình. Tuy nhiên anh S không cung cấp địa chỉ của anh Đ tại Đài Loan theo yêu cầu của Tòa án.
Tại các biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh: Các cháu Nguyễn Đặng C, Nguyễn Bảo C1, Nguyễn Bảo N đều có chung nội dung trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 227, Điều 464, 469 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10, Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao; đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị H; xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ.
Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Đặng C, sinh ngày 08/6/2009; cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2013; cháu Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Đặng Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Đặng Thị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Thanh Đ đăng ký kết hôn ngày 17/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Đặng Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh số 444/QLXNC-Đ1 ngày 18/4/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: anh Nguyễn Thanh Đ, sinh ngày 08/6/1986; số Hộ chiếu: C5296437; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 16/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đặng Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ đang lao động ở nước ngoài, vắng mặt không có lý do; qua xác minh, người thân của anh Đ không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Đ ở nước ngoài nên thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh Đ không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị H, anh Đ theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Thanh Đ tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị H và anh Đ là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc tại địa phương. Đến năm 2020, anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu, vợ chồng vẫn thường liên lạc nhưng đến tháng 6/2022, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Đ có mối quan hệ với người phụ nữ khác, không gửi tiền về nuôi con, không chăm lo cho vợ con nên vợ chồng cãi vã và không còn liên lạc với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đặng Thị H đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Đ. Bị đơn anh Nguyễn Thanh Đ đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt các thông báo, quyết định và đăng tin thông báo theo quy định của pháp luật nhưng không có mặt tại Tòa án để giải quyết, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H yêu cầu được ly hôn anh Đ là có căn cứ và phù hợp. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, cho chị H và anh Đ ly hôn.
[2.2] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Đặng C, sinh ngày 08/6/2009; cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2013; cháu Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 16/8/2016. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả ba con chung.
Làm việc với Tòa án, các cháu Nguyễn Đặng C, Nguyễn Bảo C1, Nguyễn Bảo N đều có chung nội dung trình bày muốn được ở với mẹ. Xét thấy trách nhiệm và quyền nuôi dưỡng con chung thuộc về cha mẹ. Hiện tại chị H đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam, đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung để đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho con chung. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 03 con chung là cháu Nguyễn Đặng C, sinh ngày 08/6/2009; cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2013; cháu Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Đặng Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật và ý kiến của các bên. Anh Đ không phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đặng Thị H. Cho chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Thanh Đ ly hôn.
- Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Nguyễn Đặng C, sinh ngày 08/6/2009; cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2013; cháu Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 16/8/2016 cho chị Đặng Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Anh Nguyễn Thanh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 04/4/2025 ký bởi Công ty Cổ phần T).
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |
Bản án số 133/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 133/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
