Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24-6-2025

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
  • Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: ông Đoàn Chí Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1996 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Tổ F, Ấp B, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1993 (vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 3 năm 2025 nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N trình bày: Vào năm 2017 bà và ông Nguyễn Văn N1 tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và thường xuyên xảy ra cự cãi. Bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân được nữa nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1. Trong quá trình chung sống bà và ông N1 có hai người con chung tên Nguyễn Phương Mỹ A, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2018 và Nguyễn Phương Mỹ T, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2020, con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai người con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với ông Nguyễn Văn N1 là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông N1 vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng N. Cho bà Lê Thị Hồng N ly hôn với ông Nguyễn Văn N1; giao hai người con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn N1, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Lê Thị Hồng N là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Lê Thị Hồng N. Ông Nguyễn Văn N1 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn N1.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn N1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, đến năm 2020 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 23 tháng 10 năm 2020. Do đó, hôn nhân của bà Lê Thị Hồng N với ông Nguyễn Văn N1 là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà N yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn N1. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn N1 nhiều lần để tham gia hoà giải và xét xử nhưng ông N1 vắng mặt, không tham gia hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Lê Thị Hồng N. Bà Lê Thị Hồng N cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Thị Hồng N với ông Nguyễn Văn N1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng N về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn N1.

[4] Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Lê Thị Hồng N với ông Nguyễn Văn N1 có hai người con chung tên Nguyễn Phương Mỹ A, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2018 và Nguyễn Phương Mỹ T, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2020, con chung do bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi hai người con chung. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý cho ông Nguyễn Văn N1 nhưng ông N1 không có ý kiến đối với yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của bà Lê Thị Hồng N. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống đến nay con chung do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông N1 không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của bà N và ông N1 cũng không có yêu cầu nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng N, giao hai người con chung tên Nguyễn Phương Mỹ A, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2018 và Nguyễn Phương Mỹ T, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2020 cho bà Lê Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung bà Lê Thị Hồng N, ông Nguyễn Văn N1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Thị Hồng N phải chịu 300.000đ, bà Lê Thị Hồng N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000₫ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn N1.
  2. Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Nguyễn Phương Mỹ A, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2018 và Nguyễn Phương Mỹ T, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2020 cho bà Lê Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Bà Lê Thị Hồng N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu tiền số 0003926 ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà Lê Thị Hồng N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bà Lê Thị Hồng N có quyền kháng cảo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Chi cục thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Việt Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn

  • Số bản án: 133/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: : Bà Lê Thị Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn N1, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger