TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 “V/v xin ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Bửu Thương
Ông Bùi Đức Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số 675/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H. Sinh năm: 1969. (Có mặt)
Địa chỉ: Số B, L, khóm B, phường F, thành phố C.
Bị đơn: Bà Lương Thùy T. Sinh năm: 1970. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số B, L, khóm B, phường F, thành phố C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị Ả. Sinh năm: 1981. Địa chỉ: Số B, đường P, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
- Bà Vũ Thu P. Địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Như Ý. Địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
- Ông Trần Tuấn K. Sinh năm: 1970. Địa chỉ: Số I, đường L, khóm G, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. (Xin vắng mặt)
- Ngân hàng TMCP N. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ tại Cà Mau: Số G, đường A, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Huỳnh Tuyết H1. Sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số B, L, khóm B, phường F, thành phố C. (Vắng mặt)
- Bà Thái Diễm T1. Sinh năm: 1980. Địa chỉ: Số F, T, khóm B, phường F, thành phố C. (Xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và bà Lương Thùy T kết hôn vào năm 1992 đến năm 2002 có đăng ký kết hôn tại UBND phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71. Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng gần đây xảy ra nhiều mẫu thuẫn do bà T làm nợ nhiều lần, quá trình chung sống bất đồng quan điểm. Nay nhận thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Lương Thùy T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2002. Hiện các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận.
- Về nợ chung: Nợ Ngân hàng N – chi nhánh C1 số tiền 4.000.000.000đ; nợ bà Thái Diễm T1 số tiền 1.923.300.000 đồng. Nợ bà Huỳnh Tuyết H1 số tiền 490.500.000 đồng. Ngoài ra, vợ chồng tôi còn có nợ ông Trần Tuấn K, sinh năm 1970, địa chỉ: Số I, đường L, khóm G, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, số tiền 3.000.000.000đ (03 tỷ); nợ bà Nguyễn Như Ý, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 150.000.000 đồng; nợ bà Vũ Thu P, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 200.000.000đ. Do vợ chồng có thoả thuận sẽ bán các tài sản để trả nợ nên tôi không yêu cầu Toà án xem xét trong vụ án này.
* Bị đơn bà Lương Thùy T trình bày:
- Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như ông H đã trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng ông H trình bày là không đúng. Mâu thuẫn là do xuất phát từ việc ông H có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài chứ hoàn toàn không phải về tiền bạc. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đồng ý ly hôn với ông H.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2002. Hiện các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng có 02 căn nhà số B và B đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP N; 03 phần đất khoảng hơn 900 m2 (trong đó có 01 phần đất đang bị cơ quan thi hành án kê biên, 02 phần đất đã bị thất lạc giấy chứng nhận) và 01 chiếc xe ô tô 4 chỗ. Tuy nhiên do vợ chồng còn nợ nên tôi đồng ý với ý kiến của ông H về việc vợ chồng tự thoả thuận về tài sản, không có yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này, khi nào có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện riêng.
- Về nợ chung: Nợ Ngân hàng N – chi nhánh C1 số tiền 4.000.000.000đ; nợ bà Thái Diễm T1 số tiền 1.923.300.000 đồng. Nợ bà Huỳnh Tuyết H1 số tiền 490.500.000 đồng; nợ bà Nguyễn Như Ý, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 150.000.000 đồng; nợ bà Vũ Thu P, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 200.000.000đ; Đối với khoản nợ ông Trần Tuấn K, sinh năm 1970, địa chỉ: Số I, đường L, khóm G, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, số tiền 2.300.000.000đ (không phải 03 tỷ như ông H trình bày). Ngoài ra vợ chồng tôi còn nợ bà Trương Thị Ả, địa chỉ: Số B, đường P, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau số tiền 400.000.000đồng. Ngoài ra còn nợ bà Cúc H2 (không rõ họ tên đầy đủ sống gần nhà tại đường L, thành phố C), số tiền 52.000.000đ. Do vợ chồng có thoả thuận sẽ bán các tài sản để trả nợ nên tôi không yêu cầu Toà án xem xét trong vụ án này.
* Bà Trịnh Kiều O đại diện Ngân hàng TMCP N trình bày: Ông Nguyễn Thanh H và bà Lương Thùy T có vay vốn tại Ngân hàng TMCP N, chi nhánh C1 – PGDP5 từ năm 2018 cho đến nay. Hiện ông H, bà T còn dư nợ theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể: Hợp đồng cho vay số 234-2018/HĐ-CMA-PGDP% ngày 28/8/2018, số tiền vay là 4.000.000.000đ và Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 102-2024/HĐ-CMA-PGDP5 ngày 06/3/2024, số tiền vay là 2.500.000.000đ. Tổng dư nợ của hai khoản vay tính đến ngày 18/6/2025 là 4.000.000.000đ tiền gốc và 22.691.505đ tiền lãi. Để đảm bảo các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên, ông H và bà T thế chấp các tài sản gồm: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BL 367499 (thửa số 210, tờ bản đồ số 35), diện tích 63,07m2 đất ở tại đô thị, diện tích sàn nhà ở 148,76m2, địa chỉ số B, đường L, phường F, thành phố C và Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số 5901050112 (thửa số 190, tờ bản đồ số 03), diện tích 225,93m2 đất ở, diện tích sử dụng nhà ở 338m2, địa chỉ số B đường L, phường F, thành phố C. Nay Ngân hàng thống nhất với ông H, bà T về việc tiếp tục duy trì các hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp trên do ông H và bà T không có yêu cầu chia tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng. Trường hợp ông H và bà T có yêu cầu chia tài sản thì Ngân hàng yêu cầu ông H và bà T phải thanh toán dứt điểm các khoản nợ tại Ngân hàng trước khi chia tài sản.
* Bà Thái Diễm T1 trình bày tại bản tự khai và biên bản ghi nhận ý kiến đương sự ngày 09/01/2025 như sau: Tại bản án số 51/2023/DS-ST ngày 21/03/2023 của Toà án thành phố Cà Mau đã giải quyết ông H và bà T có trách nhiệm trả nợ tôi số tiền 1.923.300.000đ. Bản án đã có hiệu lực và tôi đã yêu cầu thi hành án. Trong vụ án tôi không có yêu cầu gì và tôi xin từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt tại các phiên hợp, phiên toà giải quyết vụ án.
Bà Vũ Thu P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án thông báo thụ lý về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đến nay bà P vẫn không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ngày 03/6/2025 Toà án có nhận được Đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 02/6/2025 đứng đơn Vũ Thu P gửi qua đường bưu điện.
Đối với ông Trần Tuấn K là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án thông báo thụ lý về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đến nay ông K vẫn không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ngày 16/6/2025 Toà án có nhận được Đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 13/6/2025 đứng đơn Trần Tuấn K gửi qua đường bưu điện.
Đối với bà Nguyễn Như Ý, bà Trương Thị Ả, bà Huỳnh Tuyết H1 đã được Tòa án thông báo thụ lý về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng đến nay bà Ý, bà Ả, bà H1 vẫn không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lương Thùy T, Đại diện hợp pháp Ngân hàng N, bà Nguyễn Như Ý, bà Trương Thị Ả, bà Huỳnh Tuyết H1, bà Thái Diễm T1, bà Vũ Thu P, ông Trần Tuấn K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh H và bà Lương Thùy T xác lập quan hệ vợ chồng từ năm 1992 trên cơ sở tự nguyện nhưng đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ kể từ thời điểm đăng ký kết hôn theo khoản 2 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình. Về lý do ly hôn, ông H xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hàn gắn, vợ chồng đã ly thân, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với bà T. Xét thấy, tình cảm hôn nhân giữa ông H và bà T không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận cho ông H ly hôn với bà T.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2002. Hiện các con đều đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông H và bà T xác định vợ chồng có 02 căn nhà số B và B đường L, khóm B, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP N; 03 phần đất khoảng hơn 900 m2 (trong đó có 01 phần đất đang bị cơ quan thi hành án kê biên, 02 phần đất đã bị thất lạc giấy chứng nhận) và 01 chiếc xe ô tô 4 chỗ. Ông H và bà T đều xác định tự thỏa thuận phân chia tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết hoặc ghi nhận. Do các đương sự xác định tự thoả thuận, không có yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Ông H xác định vợ chồng có các khoản nợ chung gồm: Nợ Ngân hàng N – chi nhánh C1 số tiền 4.000.000.000đ; nợ bà Thái Diễm T1 số tiền 1.923.300.000 đồng; nợ bà Huỳnh Tuyết H1 số tiền 490.500.000 đồng; nợ ông Trần Tuấn K, sinh năm 1970, địa chỉ: Số I, đường L, khóm G, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, số tiền 3.000.000.000đ (03 tỷ); nợ bà Nguyễn Như Ý, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 150.000.000 đồng; nợ bà Vũ Thu P, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 200.000.000đ.
Đối với bà T xác định nợ chung của vợ chồng gồm: Nợ Ngân hàng N – chi nhánh C1 số tiền 4.000.000.000đ; nợ bà Thái Diễm T1 số tiền 1.923.300.000 đồng; nợ bà Huỳnh Tuyết H1 số tiền 490.500.000 đồng; nợ bà Nguyễn Như Ý, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 150.000.000 đồng; nợ bà Vũ Thu P, địa chỉ: Số B, Quốc lộ A, khóm A, phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, số tiền 200.000.000đ; Đối với khoản nợ ông Trần Tuấn K, sinh năm 1970, địa chỉ: Số I, đường L, khóm G, phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, số tiền 2.300.000.000đ (không phải 03 tỷ như ông H trình bày). Ngoài ra, còn nợ bà Trương Thị Ả, địa chỉ: Số B, đường P, khóm C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau số tiền 400.000.000đồng; nợ bà Cúc H2 (không rõ họ tên đầy đủ sống gần nhà tại đường L, thành phố C), số tiền 52.000.000đ. Xét thấy nguyên đơn và bị đơn xác định các khoản nợ chưa thống nhất nhau. Tại phiên tòa, ông H cũng thống nhất các khoản nợ mà bà T trình bày và ông bà đã thỏa thuận bán tài sản chung để trả nợ nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Xét thấy, đối với khoản nợ của bà Trương Thị Ả, bà Thái Diễm T1, bà Huỳnh Tuyết H1 đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với khoản nợ Ngân hàng, ông Trần Tuấn K, bà Vũ Thu P, bà Nguyễn Như Ý, do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Khi nào có phát sinh tranh chấp Ngân hàng, ông Trần Tuấn K, bà Vũ Thu P, bà Nguyễn Như Ý có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác.
[6] Về án phí: Ông H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh H về việc xin ly hôn với bà Lương Thùy T.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1993 và Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2002. Hiện các con đều đã trưởng thành, có khả năng lao động, Toà án không xem xét.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng. Ngày 13/12/2024 ông Nguyễn Thanh H đã dự nộp 300.000đ tại Biên lai thu số 0009927, đối trừ, chuyển thu ngân sách nhà nước toàn bộ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 133/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 133/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
