TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2025/HNGĐ-ST Ngày 16-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Luyến
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Nhật Á, sinh năm 1995, nơi cư trú: Số H T, phường N (nay là phường A), Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Markham O Canada L; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Sinh T, sinh năm 1991, nơi cư trú: Số H T, phường N (nay là phường A), Quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Trần Nhật Á trình bày:
Chị và anh Nguyễn Sinh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 29 tháng 12 năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống, do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã ly thân từ năm 2024. Đến cuối năm 2024, nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên chị Á sang Canada để làm ăn và sinh sống, từ đó anh chị không còn quan hệ gì về mặt tình cảm và kinh tế nữa. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Đến nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh T để nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Á và anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Minh V, sinh ngày 10/3/2015 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 10/10/2020. Chị Á đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Hoàng Minh V cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Minh N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị xin tự giải quyết với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Á và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản ý kiến của bị đơn - anh Nguyễn Sinh T trình bày:
Anh thống nhất với chị Trần Nhật Á về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Nay, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Á.
Về con chung: Anh thống nhất với lời khai của chị Á: Anh và chị Á có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Minh V, sinh ngày 10/3/2015 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 10/10/2020. Anh T đề nghị giao cháu Nguyễn Hoàng Minh V cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Minh N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự giải quyết với chị Á, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh T và chị Á tự giải quyết về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh chị giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện, bản tự khai và không có sự thay đổi nội dung nào khác.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Trần Nhật Á và bị đơn anh Nguyễn Sinh T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 29 tháng 12 năm 2014 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Nhật Á. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hoàng Minh V, sinh ngày 10/3/2015 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 10/10/2020 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Á xin tự giải quyết với anh T nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung: Chị Á xin tự giải quyết với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Sinh T có đăng ký thường trú tại Hải Phòng, nguyên đơn là chị Trần Nhật Á có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng, hiện nay đang ở nước ngoài (Canada). Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Trần Nhật Á, bị đơn là anh Nguyễn Sinh T vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T xây dựng gia đình với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N (nay là Ủy ban nhân dân phường A), Quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 29/12/2014. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân gia đình, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng thể hiện: Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng với nhau về quan điểm sống, chị Á đã sang Canada làm ăn sinh sống. Chị Trần Nhật Á xin ly hôn, anh Nguyễn Sinh T đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nhật Á, xử cho chị Trần Nhật Á được ly hôn với anh Nguyễn Sinh T.
[4] Về con chung: Chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T đều xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Minh V, sinh ngày 10/3/2015 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 10/10/2020. Chị Á và anh T đều thỏa thuận, thống nhất giao cháu Nguyễn Hoàng Minh V cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Minh N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay anh T và chị Á đều đủ điều kiện về việc chăm sóc nuôi dậy con chung. Cháu Nguyễn Hoàng Minh V có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Trần Nhật Á. Việc thỏa thuận nuôi con của chị Á và anh T là không trái pháp luật, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của hai bên. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Hoàng Minh V cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Minh N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích về quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật. Song, chị Trần Nhật Á xin tự giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung với anh Nguyễn Sinh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Nhật Á là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nhật Á.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Nhật Á được ly hôn với anh Nguyễn Sinh T.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Minh V, sinh ngày 10/3/2015 cho chị Trần Nhật Á; giao con chung Nguyễn Minh N, sinh ngày 10/10/2020 cho anh Nguyễn Sinh T nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T về việc tạm thời không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Nhật Á và anh Nguyễn Sinh T tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Nhật Á phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001199 ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Trần Nhật Á đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Trần Nhật Á (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật
Anh Nguyễn Sinh T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Nguyễn Thị Luyến | Nguyễn Xuân Tuyến |
Nguyễn Thị Hồng Thúy |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
Bản án số 133/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 133/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xác định cha cho con