|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 133/2025/HNGĐ – ST Ngày: 09 - 10 - 2025 “V/v ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Thành Phước
Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long không tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 123/2025/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 9 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 134/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc Đ, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nay là ấp T, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nay là ấp T, xã B, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/4/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc Đ trình bày:
Nguyên vào năm 2002, chị và anh Nguyễn Thanh H kết hôn theo phong tục, tập quán; có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 31/12/2002 đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 105.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đầu. Đến năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được nên đã ly thân từ đó đến nay; mặc dù sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
- Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Thị Hà M, sinh ngày 14/7/2007 và Nguyễn Thành L, sinh ngày 19/5/2003. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con; riêng cháu L đã trưởng thành và tự lo được cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung phải thu, phải trả: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc Đ giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án: chị yêu cầu ly hôn với anh H, lý do là tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H luôn bịa đặt những chuyện không có thật để làm cho chị mất uy tín, tính tình anh H rất khó khăn, chi ly, nhỏ mọn với vợ con, không phụ giúp vợ con. Hết giờ làm việc ở công ty thì anh H chỉ biết ăn nhậu với bạn bè, rất phóng khoáng với bạn bè. Từ năm đại dịch Covid 19 đến nay, chị và anh H đã không còn đời sống vợ chồng, không còn chăn gối với nhau. Năm C, chị bị bệnh rất nặng, anh H không chăm sóc mà cố tình xa lánh, kì thị với chị. Sau khi sinh đứa con thứ hai, chị đã có ý định ly hôn với anh H nhưng chị không biết làm thủ tục như thế nào vì anh H nói “tao không ký, đố thằng nào dám cho ly hôn”, anh H còn nói “cưới chị rẻ hơn cá Linh sình”. Chị đã cố sức chịu đựng thời gian rất lâu, hôm nay chị kiên quyết ly hôn. Về con chung: đã trưởng thành và tự lo được cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không có, căn nhà tạm hiện đang ở, tọa lạc trên đất của cha ruột chị, vật liệu xây dựng cũng của cha mẹ chị cho, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Thanh H vắng mặt không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con đối với anh Nguyễn Thanh H. Do đó, quan hệ tranh chấp được Tòa án xem xét giải quyết là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; bị đơn anh Nguyễn Thanh H có nơi cư trú tại ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (nay là ấp T, xã B, tỉnh Vĩnh Long) nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Bị đơn Nguyễn Thanh H đã được tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nhiều lần, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2002, chị Trần Thị Ngọc Đ và anh Nguyễn Thanh H kết hôn theo phong tục, tập quán; có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 31/12/2002 đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 105. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ, anh H là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẩn vợ chồng: Chị Đ cho rằng vợ chồng sống chung không hạnh phúc, hòa thuận, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên cãi vả dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt, mâu thuẩn kéo dài và nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H. Anh H đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo lời trình bày chị Đ, hiện nay tình trạng vợ chồng của chị Đ và anh H đã thiếu đi sự chăm sóc lẫn nhau là đã vi phạm Điều 19 Luật hôn nhân gia đình. Cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh H đã mâu thuẩn trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Đ yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ.
[3] Về con chung: hai con chung tên Nguyễn Thị Hà M, sinh ngày 14/7/2007 và Nguyễn Thành L, sinh ngày 19/5/2003, đã trưởng thành và tự lo được cho bản thân, chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[4] Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: chị Đ phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ngọc Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ngọc Đ ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
- Về con chung: đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: chị Trần Thị Ngọc Đ phải nộp phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số Nº 0001079 ngày 23 tháng 5 năm 2025.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Trí Trường |
Bản án số 133/2025/HNGĐ – ST ngày 09/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 133/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ngọc Đ ly hôn, nuôi con với Nguyễn Thanh H
