TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 133/2025/DS-ST.
Ngày 04 - 6 - 2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ánh Nhạn;
- Bà Trần Thị Thuý.
- - Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Huỳnh Mai là Thư ký toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 563/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Võ Thị Tường V, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A Ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- - Bị đơn: bà Lê Thị R, sinh năm 1957; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Hồ Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, nguyên đơn bà Võ Thị Tường V trình bày:
Vào ngày 04/05/2022, bà và bà R có ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 100 m² là một phần của diện tích đất 539 m² thuộc thửa đất số 158, tờ bản đồ số 13; đất toa lạc tại ấp X 1, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07/08/2007 cho bà Nguyễn Thị T1 là mẹ chồng bà R. Bà R và anh T cho rằng bà T1 đã ủy quyền lại cho bà R nên bà mới ký hợp đồng đặt Cọc. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc bà có giao cho bà R số tiền 250.000.000 đồng. Ngày 14/05/2022 bà R, ông T có yêu cầu bà đưa thêm số tiền 50.000.000 đồng đề làm giấy tờ dất.
Tổng cộng số tiền cả 02 lần bà giao cho bà R và anh T là 300.000.000 đồng. Khi bà giao tiền cho bà R thì bà nói đưa cho con bà tên Hồ Văn T nhận tiền vì lý do bà đã già, anh T nhận xong và cũng ký tên vào hợp đồng đặt cọc. Ngoài ra, khi nhận tiền và ký hợp đồng đặt cọc có bà R, ông T và sự chứng kiến của ông Võ Văn M là trưởng ấp.
Thời hạn đặt cọc từ ngày 04/05/2022 cho đến ngày 19/06/2022 nếu bên bán chưa ra bản vẽ trích lục, chưa công chứng được thì bên mua (Bên B) xem như mua nhà và đất bằng giấy tay trị giá 300.000.000 đồng. Bên A phải giao nhà và đất cho bên Bên B. Nhưng hết thời hạn đặt cọc, Bên A không giao nhà và diện tích đất, cũng không ký hợp đồng chuyển nhượng nhà và diện tích đất cho bà. Bà liên hệ bà R rất nhiều lần nhưng không chịu thực hiện như lời hứa. Lý do, chờ con trai mãn hạn tù về giải quyết.
Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị R và ông Hồ Văn T phải trả lại tiền cọc 300.000.000 đồng và tiền phạt cọc 300.000.000 đồng. Tổng cộng 600.000.000 đồng.
Trong các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, bị đơn bà Lê Thị R trình bày:
Bà không thống nhất với lời trình của bà V về một số nội dung như bà V trình bày. Bà thừa nhận có ký tên và lăng tay vào giấy cọc do bà V cung cấp nhưng bà không biết chữ và khi đó con bà là T kêu ký tên giấy cho T để T chuyển nhượng nhà đất. Việc giao nhận tiền do T nhận nên bà không rõ. Do đất bên chồng bà để lại nhưng chưa sang tên. Hiện anh chị em và các cháu bên chồng bà chỉ đồng ý để bà ở mà không cho chuyển nhượng nên không thể sang tên cho bà V được.
Nay bà đồng ý trả lại tiền cọc cho bà V theo số tiền con bà đã nhận, bà không đồng ý trả tiền phạt cọc vì khi chuyển nhượng bà có nói rõ cho bà V biết về đất bên chồng đứng tên và không biết có sang tên đất được hay không, bà V biết nhưng vẫn ký hợp đồng.
Trong các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn T trình bày:
Bà Lê Thị R có đứng tên hợp đồng đặt cọc ngày 04/5/2022 thoả thuận chuyển nhượng phần đất tại căn nhà của ông ngang 05 m dài 20 m cùng căn nhà với giá 450.000.000 đồng. Bà V đã giao tiền cọc 250.000.000 đồng do ông là người nhận, khi nhận tiền ông có ký tên lăn tay vào giấy đặt cọc với tên T2 do tên thường gọi ở nhà là tên T2. Sau đó ngày 14/5/2022, ông có nhận thêm của bà V số tiền cọc 50.000.000 đồng. Thoả thuận thời hạn 01 tháng sang tên và bà V giao thêm đủ tiền. Nhưng sau đó ông bị đi chấp hành hình phạt tù 03 năm và phần đất của bà nội ông đứng tên và các cô bác của ông không đồng ý sang tên cho mẹ ông nên không thể làm thủ tục sang tên được cho bà V.
Ông đồng ý cùng mẹ ông trả cho bà V 300.000.000 đồng tiền cọc, không đồng ý phạt cọc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 275, 328, 351 của Bộ luật Dân sự. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà R và anh T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V tiền cọc 300.000.000 đồng.
Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền phạt cọc 300.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền cọc 300.000.000 đồng và phạt cọc 300.000.000 đồng. Bị đơn bà R và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông T thừa nhận có ký hợp đồng đặt cọc và nhận cọc của nguyên đơn 300.000.000 đồng nhằm để chuyển nhượng nhà và đất do bị đơn đang quản lý sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chưa được nhận thừa kế.
Tại thời điểm ký hợp đồng phần đất do người khác đứng tên nên bên bị đơn không thể đứng tên chuyển nhượng được do những người thừa kế không đồng ý sang tên cho bị đơn. Do đó hợp đồng đặt cọc vộ hiệu kể từ khi hai bên ký kết hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được. Bên nguyên đơn biết rõ nhưng vẫn ký hợp đồng nên bên bị đơn không có lỗi theo quy định tại Điều 408 của Bộ luật Dân sự.
Như phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà R và ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền cọc 300.000.000 đồng. Không chấp nhận yều cầu phạt cọc của nguyên đơn với số tiền 300.000.000 đồng theo quy định tại Điều
- Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
- Về án phí: Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người cao tuổi có đơn đề nghị nên được miễn án phí dan7 sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 12, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 328, Điều 408 của Bộ luật Dân sự; các Điều 12, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Tường V tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bà Lê Thị R, ông Hồ Văn T.
Buộc bà Lê Thị R, ông Hồ Văn T cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Võ Thị Tường V số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Tường V về yêu cầu bà bà Lê Thị R, ông Hồ Văn T trả số tiền phạt cọc 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
- Án phí: bà Võ Thị Tường V phải chịu 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 14.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0014691 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Gò Dầu. Bà Võ Thị Tường V phải nộp tiếp số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
Bà Lê Thị R được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Hồ Văn T phải chịu 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà R, ông T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Trưởng |
Bản án số 133/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 133/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu
