|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC |
Bản án số:133/2024/HSST.
Ngày: 04/07/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Kim Liên. |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Hành. |
| Bà Nguyễn Thị Hoa. | |
| Thư ký ghi biên bản phiên tòa: | Bà Từ Ngọc Thuý – Cán bộ Tòa án. |
| Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: | |
| Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên. |
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/HSST ngày 7 /6/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Ngọc L - sinh ngày 01/12/2005; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn A, xã Đ, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; Giới tính: nam. Con ông: Phạm Xuân V; Con bà: Nguyễn Thị X; A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Danh chỉ bản số 170 ngày 8/3/2024 Công an huyện T lập; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 20/12/2022, bị cáo bị công an huyện T, thành phố Hà Nội ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi mua dâm. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 05/4/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Vũ Thế Q - sinh năm 1995; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Cụm A, V, V, huyện T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; Giới tính: nam. Con ông: Vũ Văn L1; Con bà: Trịnh Thị H. Gia đình bị cáo có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Có vợ: Nguyễn Lục Thanh T, có 02 con, sinh năm 2015 và 2020. Danh chỉ bản số 171 ngày 8/3/2024 Công an huyện T lập;
Tiền án: không. Tiền sự: Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 05/04/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1998.
Nơi cư trú: Thôn K, K, T, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm: 1998, trú tại: K, K, T, Hà Nội) làm nghề lái xe taxi. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 29/12/2023, anh T1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Expander màu trắng, BKS: 29E-016.95 đến đón anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm: 1989, địa chỉ: K, T, Hà Nội) tại khu vực Đ, H, Hà Nội rồi chở anh T2 đến khu vực đường G, T, Hà Nội để tìm quán massage. Khi anh T1 điều khiển xe đi vào đường gom khoảng 100m thì thấy Phạm Ngọc L đang mua nước tại quán tạp hóa của ông Quán Văn S (sinh năm: 1963, địa chỉ: Đ N, T, Hà Nội). Anh T1 bấm còi xe để xin nhường đường thì giữa L và anh T1 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Lúc này, ông S đi ra can ngăn và kéo L vào nên anh T1 mới tiếp tục điều khiển xe đi được. Do trước đó đã uống rượu và bức xúc với thái độ của anh T1 nên L đã gọi điện thoại bảo Vũ Thế Q đến đường G giúp L. Quyền hiểu là L đang bị đánh nên khoảng 15 phút sau, Q điều khiển xe mô tô và mang theo 02 thanh đao tự chế bọc vỏ gỗ đến chỗ L đang chờ. Khi Q đến nơi, L kể lại vụ việc va chạm với anh T1 rồi rủ Q đi tìm và đánh anh T1. Quyền đồng ý rồi đưa 02 thanh đao Q mang đi cho L cầm. L lấy thêm 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại ở khe tường (L cất giấu ở đó từ trước đề phòng trường hợp nếu có đánh nhau sẽ mang ra dùng). Sau đó, Q điều khiển xe mô tô chở L đi tìm anh T1. Khi đi đến đoạn đường gom ven đường tàu thuộc Đội 7, N, T, Hà Nội thì L và Q thấy xe ô tô của anh T1 đang đỗ bên đường còn anh T1 đang đứng cạnh xe. Quyền dừng xe lại, L xuống xe đưa 02 thanh đao của Q cho Q cầm, bản thân L cầm thanh kiếm của mình đi về phía anh T1 nói “Mày thích bấm còi không?”. Lúc này, L cầm thanh kiếm bằng tay phải chọc vào đằng trước người anh T1. Anh T1 thấy vậy liền bỏ chạy vòng quanh chiếc xe ô tô thì bị L và Q vừa đuổi theo vừa hô to “Địt mẹ mày đứng lại” khoảng 10 phút thì L cầm kiếm bằng tay
phải chém hai nhát liên tiếp theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào lưng, tay trái của anh T1. Quyền vứt 02 thanh đao xuống đất và chỉ dùng tay chân đánh, đạp anh T1. Do Q đứng phía bên phải của L nên khi L vung kiếm chém anh T1 lần thứ ba thì đã chém vào bàn tay trái của Q khiến Q bị chảy máu. Khoảng một lúc sau, được người dân gần đó can ngăn nên L và Q không đuổi theo anh T1 nữa. Quyền điều khiển xe mô tô đưa L về quán gội đầu của chị Bùi Thị Vân A (sinh năm: 1990, địa chỉ: N, T, Hà Nội) gần đường G để cất giấu 02 thanh đao và 01 thanh kiếm, sau đó L đi vào Bệnh viện Nông nghiệp để khâu vết thương trên tay của Q.
Cùng ngày 29/12/2023, anh Nguyễn Văn T1 đã đến Công an xã N để trình báo sự việc như trên và yêu cầu xử lý theo pháp luật.
Cùng ngày 29/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T triệu tập Phạm Ngọc L và Vũ Thế Q. Tại Công an huyện T, cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Ngọc L và Vũ Thế Q 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại có cạnh sắc, chiều dài 60cm, bản rộng 4cm, phần chuôi bằng gỗ dài 25cm được quấn băng dính đen; 01 thanh đao tự chế bằng kim loại có cạnh sắc, chiều dài 47cm, bản rộng 4,5cm, phần chuôi bằng gỗ dài 20cm, có vỏ bọc bên ngoài bằng gỗ dài 52cm; 01 thanh đao tự chế bằng kim loại có cạnh sắc, chiều dài 46cm, bản rộng 4,5cm, phần chuôi bằng gỗ dài 20cm, có vỏ bọc bên ngoài bằng gỗ dài 52cm tại quán gội đầu ở đường G, T, Hà Nội.
Tại Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa nông nghiệp đối với anh Nguyễn Văn T1 thể hiện:
- * Vào viện khám: 03 giờ 32 phút ngày 29/12/2023. Kết thúc điều trị: 08 giờ 23 phút ngày 29/12/2023.
- * Quá trình diễn biến lâm sàng:
- Bệnh nhân bị tai nạn bạo lực, người khác dùng kiếm chém vào lưng, đầu, tai P Sau tai nạn bệnh nhân tỉnh, đau đầu, choáng kèm vết thương vùng lưng, tai P.
- * Tình trạng thương tích lúc vào viện:
- - Toàn thân: Bệnh nhân tỉnh, mệt, G: 15 điểm, huyết động ổn định, thể trạng trung bình; Da, niêm mạc hồng, không phù, không xuất huyết dưới da; Hạch ngoại vi không sờ thấy, tuyến giáp không to.
- - Sưng nề vùng thái dương P; Vết thương nông vùng tai P kích thước khoảng 0,5 cm; 2 vết thương nông vùng lưng mỗi vết kích thước khoảng 5 cm rỉ máu; 01 vết thương tay T kích thước khoảng 6 cm rỉ máu
- - Đau đầu, choáng váng, không buồn nôn, không nôn; Đồng tử hai bên đều, PXAS (+); Không yếu liệt chi
- - Tim nhịp đều T1 T2 rõ, không có tiếng thổi bất thường, mạch ngoại vi bắt rõ.
- - Phổi hai bên rì rào phế nang rõ không có rale.
- - Bụng mềm, không chướng, gan lách không sờ thấy.
- Các cơ quan khác khám chưa phát hiện dấu hiệu bất thường.
- * Phương pháp điều trị: Xử lý vết thương, kê đơn.
Tại Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đ đối với Vũ Thế Q thể hiện:
- Quá trình bệnh lý và diễn biến lâm sàng:
- * Tình trạng thương tích lúc vào viện:
- - Toàn thân: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình; Da, niêm mạc hồng, không phù, không xuất huyết dưới da, hạch ngoại vi không sờ thấy, tuyến giáp không to.
- - Bệnh nhân đau, hạn chế duỗi ngón I tay T; Vết thương mặt mu ngón I tay T kích thước khoảng 2cm, mép sắc, lộ hai đầu gân duỗi bị đứt, đầu ngón tay còn ẩm hồng; Vết thương nông mặt bên ngón II tay T.
- Các cơ quan khác khám chưa phát hiện dấu hiệu bất thường.
- Tóm tắt kết quả xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị chẩn đoán:
- - Chụp XQ bàn tay trái thẳng nghiêng: Hiện tại không thấy hình ảnh gãy xương, trật khớp trên phim.
- - Chụp XQ ngực thẳng: Hiện tại không thấy hình ảnh bất thường.
- Phương pháp điều trị:
- - Khâu vết thương phần mềm.
- - Huyết thanh kháng độc tố uốn ván.
Theo lời bệnh nhân: Bệnh nhân bị kính cắt vào bàn tay T cách vào viên khoảng 30 phút. Sau tai nạn bệnh nhân tỉnh, vết thương chảy máu ngón I tay T => Vào bệnh viện đa khoa Nông nghiệp khám và điều trị.
- - Kê đơn về.
- d) Tình trạng người bệnh ra viện: Ôn định.
Ngày 15/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của anh Nguyễn Văn T1 và Vũ Thế Q nhưng anh T1 và Q có đơn từ chối giám định thương tích và không chấp hành quyết định dẫn giải đi giám định thương tích.
Ngày 17/01/2024, UBND xã N có Văn bản số 03 thể hiện: “Vụ việc trên đã thể hiện tính chất manh động, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự khu dân cư, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân.
Xét thấy, hành vi của các đối tượng đã gây mất ANTT tại địa phương, làm ảnh hưởng đến quy tắc, nếp sống văn hóa của quần chúng nhân dân và địa phương. Vì vậy, UBND xã N đề nghị công an huyện T xử lý nghiêm các đối tượng đã có hành vi tụ tập, gây rối và áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật. Không để các đối tượng tiếp tục có hành vi gây rối làm ảnh hưởng đến công tác giữ gìn an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế của địa phương.”
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Phạm Ngọc L2 và Vũ Thế Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.
Tại Cơ quan điều tra, chị Bùi Thị Vân A trình bày: Chị Vân A và L2 là bạn bè quen biết xã hội, chị Vân A không biết về việc L2 cất giấu các hung khí tại cửa hàng gội đầu của mình và chị Vân A không liên quan đến hành vi phạm tội của L2 và Q nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Đối với 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại của Phạm Ngọc L2 và 02 thanh đao tự chế bằng kim loại của Vũ Thế Q, được sử dụng vào việc phạm tội nên cần phải tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về dân sự, gia đình Q đã bồi thường cho anh T1 nên anh T1 có đơn xin rút đơn tố giác tội phạm và xin miễn trách nhiệm hình sự đối với Q và L2.
Tại bản cáo trạng: số 132/CT- VKS ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Phạm Ngọc L2 và Vũ Thế Q về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Phạm Ngọc L2 và Vũ Thế Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Khi được nói lời sau cùng các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất để sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xử phạt đối với bị cáo Phạm Ngọc L2 từ 30 đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ các ngày tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 05/04/2024.
- + Áp dụng: khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xử phạt đối với Vũ Thế Q từ 28 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 56 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về dân sự: Gia đình bị cáo Q đã bồi thường cho anh T1, nên anh T1 không có yêu cầu gì về phần dân sự. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì không xem xét về phần dân sự.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại của Phạm Ngọc L2 và 02 thanh đao tự chế của bị cáo Vũ Thế Q.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.
2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên toà; Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, tại đường gom xã N, T, Hà Nội, do mâu thuẫn cá
nhân, Phạm Ngọc L2 đã dùng kiếm chém hai nhát trúng vào lưng và tay anh T1, Q dùng tay chân không đánh vào người anh T1 gây thương tích. Anh T1 từ chối giám định thương tích và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L2 và Q. Tuy nhiên, hành vi của L2 và Q đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.Ủy ban nhân dân xã N đã có công văn số 03 ngày 17/01/2024 đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng đã có hành vi tụ tập, gây rối và áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.
Hành vi của các đối tượng làm mất an ninh trật tự địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân trên địa bàn xã T, huyện T, Hà Nội.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Phạm Ngọc L2 và Vũ Thế Q đã gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã N, huyện T, Hà Nội. Đối chiếu quy định của pháp luật Phạm Ngọc L2 và Vũ Thế Q đã phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 - Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự chung, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần loại trừ những hành vi có hại cho trật tự xã hội mới, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự.
3.Về các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.
Nhân thân bị cáo Phạm Ngọc L2: Ngày 20/12/2022, bị cáo L2 bị Công an huyện T, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi Mua dâm.
4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Ngọc L2 có ông nội là người có công với cách mạng nên xem xét cho bị có hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vũ Thế Q đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
6. Vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Trong vụ án này bị cáo Phạm Ngọc L2 đã dùng kiếm chém hai nhát trúng vào lưng và tay T1, Q dùng tay chân không đấm vào anh T1, do vậy bị cáo L2 có vai trò cao nhất, rồi đến vai trò của bị cáo Q.
Hội đồng xét xét thấy bị cáo Phạm Ngọc L2 đã có 01 tiền sự (đã xóa), thể hiện nhân thân xấu, có vai trò cao nhất trong vụ án, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Xét thấy bị cáo Vũ Thế Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của hội đồng Thẩm phán TANDTC. Căn cứ vào nghị quyết số 02/VBHN- TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp dụng án Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo ngày 07/9/2022. Do vậy cho bị cáo Vũ Thế Q được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
Về dân sự: Gia đình bị cáo Q đã bồi thường cho anh T1, nên anh T1 không có yêu cầu gì về phần dân sự. Do đó Hội đồng xét xử không xét về phần dân sự.
Về vật chứng: 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại của Phạm Ngọc L2 và 02 thanh đao tự chế của bị cáo Vũ Thế Q, cần tịch thu tiêu huỷ.
Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Ngọc L2 và Vũ Thế Q phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Phạm Ngọc L2.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Vũ Thế Q.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L2 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ các ngày tạm giữ ngày 08/3/2024 đến ngày 05/4/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Thế Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án hình sự sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thế Q cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại có cạnh sắc, chiều dài 60cm, bản rộng 4cm, phần chuôi bằng gỗ dài 25cm được quấn băng dính đen;
- + 01 thanh đao tự chế bằng kim loại có cạnh sắc, chiều dài 47cm, bản rộng 4,5cm, phần chuôi bằng gỗ dài 20cm, có vỏ bọc bên ngoài bằng gỗ dài 52cm;
- + 01 thanh đao tự chế bằng kim loại có cạnh sắc, chiều dài 46cm, bản rộng 4,5cm, phần chuôi gỗ dài 20cm, có vỏ bọc bên ngoài bằng gỗ dài 52cm;
(Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024)
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 bộ luật tố tụng hình sư năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi họ cư trú.
Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 133/2024/HSST ngày 04/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 133/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
