|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 133/2024/HS-ST Ngày: 09-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thanh Trúc Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Bích Lệ
Ông Trần Ngọc Đổi
- Thư ký phiên tòa: Ông Đa Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
(Tham gia tại điểm cầu trung tâm)
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm trực tuyến (Tại điểm cầu trung tâm-Trụ sở TAND huyện Bắc Bình và điểm cầu thành phần-Nhà tạm giữ Công an huyện B) công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2024/HSST ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với bị cáo: Lộc Hối T (Tên gọi khác: B), sinh năm 1994; tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12;
Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Lộc TSíu Q, sinh năm 1966 và bà Hóng Sẹc M, sinh năm 1968.
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án:
- - Ngày 30/10/2019, bị TAND huyện Bắc Bình xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 68/2019/HSST và chấp hành xong án phạt tù về lại địa phương 11/01/2021 (Chưa xóa án tích).
- - Ngày 15/02/2023, bị TAND huyện Bắc Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 11/2023/HSST và chấp hành xong án phạt tù ngày 28/9/2023 về lại địa phương (Chưa xóa án tích).
Tiền sự:
- Ngày 12/5/2022, bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chưa nộp phạt).
Về nhân thân:
- Ngày 12/12/2012, bị TAND huyện Bắc Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt là 45 tháng tù theo Bản án số 65/HSST và chấp hành xong án phạt tù ngày 12/9/2015 về lại địa phương (Đã xóa án tích).
- Ngày 24/01/2019, bị Công an xã P, huyện B ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Đã nộp phạt xong).
- Ngày 22/02/2019, bị Chủ tịch UBND xã H, huyện B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường với thời hạn 03 (ba) tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Đã chấp hành xong).
- Ngày 01/8/2024 bị Cơ quan điều tra Công an huyện B khởi tố bị can về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 24/7/2024 tại thôn H, xã H, huyện B.
Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác; có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Bị hại: Lê Minh Đ, sinh năm 1953 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận
(Tham gia tại điểm cầu trung tâm)
- Những người tham gia tố tụng khác:
- + Thẩm phán: Ông Đặng Xuân Ngọc
- + Thư ký Tòa án: Ông Bá Văn Nhân
- + Chuyên viên: Ông Khê Quang Mái
- + Cán bộ Công an huyện B: Ông Ngô Đức Tín
- + Chiến sỹ Công an huyện B: Ông Trần Thanh Duy, ông Ngô Văn Thông.
(Tham gia tại điểm cầu thành phần)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lộc Hối T (sinh năm 1994; thường trú: Thôn H, xã H, huyện B) là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, cụ thể:
- - Tại Bản án số 68/2019/HSST ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử tuyên phạt Lộc Hối T 21 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2021.
- - Tại Bản án số 11/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử tuyên phạt Lộc Hối T 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 28/9/2023. Đến ngày 24/7/2024, T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Sáng ngày 24/7/2024, do không có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên Lộc Hối T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Thunh đi bộ từ nhà đến chợ H1 mục đích quan sát tìm kiếm tài sản của ai để sơ hở thì lấy trộm nhưng không có nên quay về. Trên đường về gần đến nhà tại
khu vực đường N thuộc thôn H, xã H, huyện B nhìn thấy 01 mô tô biển số 86H8-1852, nhãn hiệu Rebat của ông Lê Minh Đ (sinh năm 1953, trú tại: Thôn H, xã H, huyện B) đang dựng dưới lòng đường, trên ổ khóa xe còn cắm sẵn chìa khóa và không có người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên. Thunh đi đến xe mô tô, ngồi lên yên xe bật chìa khóa khởi động máy xe nổ rồi điều khiển xe bỏ chạy về hướng đường L, sau đó tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy đến thị trấn P, huyện T để tìm người tiêu thụ. Thunh tìm đến nhà một người bạn tên Nguyễn S (tên thường gọi: Sơn H, sinh năm 1992) ở khu vực xóm cốt thuộc khu phố M, thị trấn P, huyện T để nhờ bán xe nhưng không có S ở nhà mà chỉ có vợ S. Do đã có sự quen biết từ trước nên khi T nhìn thấy Nguyễn Thị Cẩm V (sinh năm 1995; thường trú: Thôn L, xã H, huyện T) là vợ S đang ở trong nhà liền đi vào và nhờ V mang xe vừa trộm được đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng thì được V đồng ý. Thunh hỏi V: “Chiếc xe này bán được khoảng bao nhiêu?” thì V trả lời: “Chắc được khoảng một triệu”. T nói tiếp: “Nếu được một triệu thì chị lấy tiền đó mua hết ma túy giúp em”. Nói xong, V điều khiển xe Thunh vừa trộm cắp nói trên chạy đi, khoảng 15 phút sau, V đi bộ về nhà rồi nói với T đã bán được chiếc xe với giá 1.000.000 đồng và cũng đã mua ma túy cho T hết 1.000.000 đồng, T nhận bịch ma túy bỏ vào túi quần rồi đi bộ về lại xã H, huyện B. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T đi bộ về đến trước khu vực bia ghi danh liệt sĩ xã H thì bị Công an xã H phát hiện bắt quả tang T đang cất giấu ma túy, tiến hành mời Thunh về trụ sở để làm việc thì T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Công an xã H đã củng cố hồ sơ chuyển Cơ quan CSĐT Công an huyện B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 99/2024/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận:
Giá trị tài sản là 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 86H8-1852, nhãn hiệu Rebat, số loại 110TH1, màu sơn xanh, số khung RRHWCH9RH6A004925, số máy VTH152FMH-6004925, dung tích xy lanh 107cm³, sản xuất năm 2006, đăng ký lần đầu năm 2007, mua cũ lại năm 2019 tại thời điểm ngày 24/7/2024 là 470.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).
Đối với đối tượng Nguyễn Thị Cẩm V (sinh năm 1995; thường trú: Thôn L, xã H, huyện T) mà bị cáo Lộc Hối T nhờ mang xe vừa trộm được đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng, Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương nhưng Nguyễn Thị Cẩm V không có mặt tại địa phương, địa chỉ hiện tại ở đâu không rõ. Vì vậy, Cơ quan điều tra ra quyết định truy tìm để xử lý theo quy định.
Về tang, vật chứng của vụ án: Công an xã H đã tiến hành trích xuất và thu giữ 01 file video (dài 53 giây) ghi hình có âm thanh sự việc Lộc Hối T trộm cắp xe mô tô trong vụ án từ hệ thống camera an ninh tại nhà bà Phùng Vòng M2 (gần nơi xảy ra sự việc) quay lại được vào ngày 24/7/2024 và lưu trữ vào 01 USB màu trắng
bạc, nhãn hiệu Kingston DTSE9 (dung lượng 4GB) được niêm phong bằng phong bì màu trắng, được chuyển kèm hồ sơ vụ án.
Về phần dân sự: Quá trình điều tra, ông Lê Minh Đ yêu cầu Lộc Hối T bồi thường số tiền 2.000.000 do xe mô tô biển số 86H8-1852 không thu hồi được. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông Lê Minh Đ tự nguyện rút yêu cầu bồi thường dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKS.HBB ngày 11/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo: Lộc Hối T, về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
*Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt: Bị cáo Lộc Hối T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
- - Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
* Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thấy việc làm của mình là trái pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
* Bị hại: Về vấn đề dân sự, không yêu cầu bồi thường số tiền 2.000.000đồng như tại giai đoạn điều tra. Về trách nhiệm hình sự, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng
11 giờ 10 phút ngày 24/7/2024, tại thôn H, xã H, huyện B, Lộc Hối T có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 86H8-1852 trị giá 470.000 đồng của ông Lê Minh Đ mang đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi lén lút lấy trộm tài sản trị giá 470.000 đồng nêu trên của Lộc Hối T chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do Lộc Hối T có 02 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của T đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, với hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, giá trị tài sản thiệt hại không lớn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm h, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc khi lượng hình.
[4]. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là thanh niên khỏe mạnh, có khả năng lao động nhưng vì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, lười lao động, muốn nhanh có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, nên lợi dụng sự sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Tuyên bố: Bị cáo Lộc Hối T phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt: Bị cáo Lộc Hối T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lộc Hối T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thanh Trúc Tuyền |
6
Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 133/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 24/7/2024, tại thôn H, xã HN, huyện B, Lộc Hối Th có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 86H8-1852 trị giá 470.000 đồng của ông Lê Minh Đ mang đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng thì bị phát hiện. Hành vi lén lút lấy trộm tài sản trị giá 470.000 đồng nêu trên của Lộc Hối Th chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do Lộc Hối Th có 02 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của Th đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”.
