Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày : 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Trung Kiên

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 142/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN THANH, sinh ngày 20/02/1988 tại Cà Mau; địa chỉ đăng ký thường trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Viên A và bà: Tạ Thị H; vợ, con: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: 30/01/2024 (Có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1977; địa chỉ: A L, Khu phố A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2023, chị Nguyễn Thanh T quen biết với Trần Văn T1 qua mạng xã hội Facebook, qua nhiều lần nhắn tin và gọi điện có hình ảnh thì chị T biết T1 làm nghề mua bán cá biển và T1 nói cần tiền để nhập cá nên chị T cho T1 mượn số tiền 5200 đô la Mỹ (tương đương 130.000.000 đồng). Theo thỏa thuận giữa T1 và T, khi mượn tiền T1 hứa sẽ trả tiền cho chị T khi xuất được hàng, sau đó T1 đã trả cho chị T được 80.000.000 đồng.

Ngày 22/01/2024, chị T thông báo sẽ từ Hoa Kỳ về Việt Nam vào ngày 24/01/2024, lúc này T1 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T nên T1 nhờ chị T mua giúp 02 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax và đổi cho T1 số tiền 1.500 đô la Mỹ (USD), đồng thời T1 hẹn sẽ đón, trả tiền mua điện thoại, trả tiền đổi tiền đô la Mỹ cho chị T khi nhập cảnh vào sân bay quốc tế T. Vào khoảng 21 giờ 45 ngày 24/01/2024, chị T từ Hoa Kỳ nhập cảnh đến ga quốc tế sân bay T bằng hộ chiếu Việt Nam số Q00062952, cấp ngày 08/11/2022, với mục đích thăm thân nhân. Lúc 22 giờ 53 phút cùng ngày, tại cửa A1 Ga đến quốc tế sân bay T, chị T gặp và đưa T1 02 hộp điện thoại màu trắng bên trong có 01 điện thoại Iphone 15 Promax, màu Black Titanium, dung lượng 512 GB và 01 điện thoại Iphone 15 Promax, màu Blue Titanium dung lượng 01 TB, T1 bỏ 02 hộp điện thoại vào túi quần, rồi giả vờ ra xe lấy tiền trả cho chị T nhưng mục đích bỏ trốn để chiếm đoạt 02 điện thoại di động trên. Khoảng 10 phút sau, chị T không thấy T1 quay lại nên gọi điện thoại yêu cầu T1 trả tiền, T1 hứa sẽ mang tiền đến nhà chị T ở Đồng Tháp. Khoảng 02 phút sau, T1 gọi điện thoại hỏi chị T về số tiền 1.500 đô la Mỹ (USD) nhằm mục đích chiếm đoạt tiếp số tiền này của chị T và T1 hẹn ra cây xăng phía trước bên phải sân bay quốc tế T. Tại trước cửa hàng xăng dầu “Number One JSC”, địa chỉ số D T, Phường B, quận T, chị T đưa cho T1 01 phong bì màu trắng bên trong có 1500 đô la Mỹ gồm 20 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 50 USD, 05 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 100 USD, ngay lúc đó T1 giả vờ nói sẽ mang tiền đến nhà chị T ở Đồng Tháp nhưng mục đích bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền trên. Sau đó, T1 liền chặn số điện thoại, facebook của chị T và đón taxi về nhà bạn gái tên Nguyễn Thị Hồng H1 tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Qua truy xét ngày 30/01/2024, Công an mời Trần Văn T1 làm việc và tạm giữ toàn bộ số tài sản T1 lừa đảo của chị T.

Quá trình điều tra, bị can Trần Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được (Bút lục 43-45).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu Black Titanium, dung lượng 512 GB trị giá 31.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu Blue Titanium, dung lượng 01 TB trị giá 36.000.000 đồng, 1.500 đô la Mỹ (USD) quy đổi 24.732 đồng/01 USD là 37.098.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 104.098.000 đồng (Bút lục 203-208).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu Black Titanium, dung lượng 512 GB, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu Blue Titanium, dung lượng 01 TB, 1500 đô la Mỹ (USD), Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T đã trả lại các tài sản cho đại diện người bị hại chị Lưu Thị Mộng T2 (Bút lục 189-190).
  • - 01 điện thoại di động hiệu S Z Flip 4, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 (Bút lục 191-192).
  • - Thu giữ của Trần Văn T1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax và 01 bộ trang phục bị can mặc khi phạm tội.

Phần dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thanh T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đối với chị Nguyễn Thị Hồng H1, không biết việc Trần Văn T1 lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T nên chị H1 cho T1 ở cùng nhà và để số tài sản mà T1 lừa đảo của chị T tại Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nên chưa đủ cơ sở để xử lý Nguyễn Thị Hồng H1 về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tại phiên tòa,

  • - Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản phạm tội đã thu hồi trả người bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 03 (Ba) năm tù đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định:

Do quen biết trước với bị hại T, bị cáo T1 biết bị hại T sẽ nhập cảnh từ Hoa Kỳ vào Việt Nam ngày 24/01/2024, bị cáo T1 đã giả vờ nhờ bị hại T mua dùm 02 điện thoại di động hiệu iPhone 15 Promax và đổi tờ tiền USD mệnh giá thấp (gồm 20 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 50 USD, 05 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 100 USD) có tổng giá trị 1.500USD. Ngày 24/01/2024, khi đón bị hại T tại ga T, nhận 02 điện thoại di động và 1.500USD nêu trên của chị T, bị cáo T1 nói sẽ trả tiền cho chị T sau khi về Đồng Tháp nhưng sau đó bị cáo T1 liền chặn số điện thoại, facebook của chị T và đón taxi bỏ trốn về nhà bạn gái ở Đồng Tháp.

Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận thời điểm định giá ngày 24/01/2024: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu Black Titanium, dung lượng 512 GB trị giá 31.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu Blue Titanium, dung lượng 01 TB trị giá 36.000.000 đồng, 1.500 đô la Mỹ (USD) quy đổi 24.732 đồng/01 USD là 37.098.000 đồng. Tổng cộng: 104.098.000 đồng.

Xét, bị cáo Trần Văn T1 có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thanh T trị giá 104.098.000 đồng đã cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố.

[3] Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản phạm tội đã thu hồi trả bị hại, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số IMEI: 351339413861268 và 01 sim số 8401210833019394 (đã niêm phong) là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
  • - 01 (Một) nón kết màu nâu xanh; 01 (Một) đôi dép kẹp màu trắng đỏ xanh; 01 (Một) quần short kaki màu trắng; 01 (Một) áo thun ngắn tay màu trắng (đã niêm phong). Xét thấy đây là những vật không có giá trị và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Trần Văn T1 03 (Ba) năm tù về tội tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2024.

Miễn phạt tiền cho bị cáo Trần Văn T1.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Không có gì giải quyết.

[3] Về vật chứng:

  • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số IMEI: 351339413861268 và 01 sim số 8401210833019394 (đã niêm phong).
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) nón kết màu nâu xanh; 01 (Một) đôi dép kẹp màu trắng đỏ xanh; 01 (Một) quần short kaki màu trắng; 01 (Một) áo thun ngắn tay màu trắng (đã niêm phong).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/7/2024 của Công an quận T và Cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình)

[4] Bị cáo Trần Văn T1 phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.

[6] Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Phước Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thanh " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger