TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 133/2024/HS-ST. Ngày: 18-7-2024. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Quyền và ông Đầu Khắc Dinh
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 06/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Văn C; năm 1998 tại: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Tên gọi khác: Không; CCCD số: [...]; cấp ngày tháng năm. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao dộng tự do; Con ông: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1973 và bà: Định Thị L, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 11/2019/HS-ST, ngày 06/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn xử phạt 09 tháng tù, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Bị tạm giữ từ ngày 17/11/2023, tạm giam từ ngày 20/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Văn M và Nguyễn Anh Đ - Công ty L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt Phạm Văn M).
* Bị hại: Anh Phạm Huy H, sinh năm: 1993. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
Người làm chứng:
Anh Mai Văn H1, sinh năm 1999. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Mai Xuân T, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Lê Anh T1, sinh năm 2002. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19/4/2018, Nguyễn Văn C, sinh năm 1998, trú tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, do mâu thuẫn thù tức cá nhân nên đã ném gạch, đá làm hư hỏng xe ôtô Mazda 6, BKS: 36A-278.39 của anh Phạm Huy H, sinh năm 1993, ở thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 06/3/2019, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn tuyên phạt 09 tháng tù, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 18/02/2020, C chấp hành xong bản án trở về địa phương cư trú. Nguyễn Văn C cho rằng việc C bị xử lý hình sự như trên là do anh H cố tình tố cáo nên C đã nảy sinh ý định đốt chiếc xe ôtô Mazda 6, BKS: 36A-278.39 của anh H để trả thù. Để thực hiện ý định này, Nguyễn Văn C đã lên kế hoạch, nắm quy luật đi lại và xác định được vào thời điểm ban đêm, anh H thường xuyên để xe ôtô Mazda 6 màu trắng, BKS: 36A-278.39 ngoài đường QL10B, đoạn gần cửa hàng X thuộc địa phận thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Khoảng 20h00' ngày 09/8/2021, C đến cửa hàng T2, ở cùng thôn N, xã N, huyện N mua 02 bộ áo mưa (gồm 01 bộ màu vàng và 01 bộ màu đen) bỏ vào trong túi nilon mang về cất giấu ở góc bếp nhà C. Sau đó, C tiếp tục mang can nhựa màu vàng (thể tích 10 lít) từ nhà đến cửa hàng X1 thuộc địa phận thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mua 04 lít xăng rồi đem về nhà cất giấu ở chuồng gà nhà C. Khoảng 21h00' ngày 10/8/2021, C đi bộ đến nhà anh Hoàng Đình H2, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã N, huyện N, lấy lý do đi có việc riêng nên hỏi mượn anh H2 chiếc xe máy Honda BKS: 36G1 - 007.82, anh H2 đồng ý. Sau khi mượn được xe, C dắt xe máy cất giấu vào ngõ nhà bà H3 (ngay sát nhà anh H2) rồi đi bộ về nhà, chờ đến rạng sáng ngày hôm sau sẽ lấy xe đi đến chỗ xe ôtô của anh H đỗ để thực hiện hành vi đốt xe của anh H.
Khoảng 01h00' ngày 11/8/2021, Nguyễn Văn C điện thoại cho Mai Văn H1, sinh năm 1998, trú cùng thôn N, xã N, huyện N và nói nhờ H1 đi với C có việc. Lúc này, H1 đang ngồi uống bia cùng một số người bạn tại nhà anh H2, do có mối quan hệ quen biết, mặc dù không biết rõ C nhờ H1 đi cùng C có việc gì nhưng H1 vẫn đồng ý đi. Lúc này, C lấy 01 bật lửa của gia đình, 02 khẩu trang y tế, mặc chiếc áo mưa màu vàng đã mua rồi xách túi ni lông đựng chiếc áo mưa màu đen còn lại và can xăng đã mua đi bộ đến điểm cất giấu xe máy. Đến nơi, C để can xăng và túi nilon đựng áo mưa lên gác baga xe máy rồi dắt xe ra khu vực trạm bơm ở cánh đồng gần nhà anh H2. Trên đường đi, C gọi điện thoại hẹn gặp H1 tại khu vực này. Khi H1 đến, C đưa một chiếc áo mưa màu đen cho H1 mặc vào, đồng thời lấy chiếc túi nilon màu đen buộc, che biển kiểm soát chiếc xe máy. Sau đó, C bảo H1 điều khiển xe máy, đi theo chỉ dẫn của C, còn C ngồi sau cầm theo can xăng và thực hiện thao tác tắt nguồn điện thoại của C. Tại thời điểm này, H1 thấy việc C che biển kiểm soát xe nhưng không rõ mục đích để làm gì, H1 không biết can màu vàng C mang theo là can đựng xăng và không rõ mục đích C đi đâu, làm gì nhưng vì nể nang nên H1 vẫn tiếp tục đồng ý chở C đi và không thắc mắc hỏi lại gì C.
Theo chỉ dẫn của C, H1 lái xe đi từ thôn N, xã N, huyện N dọc theo các đường liên thôn, liên xã sang địa phận xã N, huyện N rồi đi theo QL10B về hướng cửa hàng xăng dầu T. Khi đến gần vị trí có ôtô màu trắng nhãn hiệu Mazda 6, BKS: 36A-278.39 của Phạm Huy H đỗ trên lề đường phía Tây QL10B, thuộc thôn Y, xã N, C quan sát không có người qua lại nên bảo H1 dừng xe lại (cách xe ôtô khoảng 05m). Lúc này, C xuống xe, xách theo can xăng đi bộ lại sát vị trí xe ôtô BKS: 36A-278.39, rồi mở nắp can xăng tưới một ít xăng trong can lên phần đuôi xe ôtô. Sau đó, C châm lửa đốt miệng can xăng, ném can xăng đang cháy lên phía ngoài cốp phía sau, bên phải của xe ôtô. Thấy lửa đã bốc cháy, C chạy lại lên xe máy bảo H1 điều khiển xe đi về thôn N, xã N, huyện N. Đến địa điểm trạm bơm nước, tiếp giáp với khu vực ruộng lúa của gia đình ông Mai Văn H4, sinh năm 1983 trú tại thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, C bảo H1 dừng lại để cởi bỏ áo mưa, tháo túi nilon đang che biển số xe rồi C cầm 02 chiếc áo mưa cùng với túi ni lông màu đen vứt xuống khu vực ruộng lúa nhà ông H4. Sau đó, C mượn điện thoại di động của H1 điện thoại cho anh Hoàng Văn H5 dậy mở cửa để C đến trả xe. Đến nhà anh H5, H1 dắt xe máy vào trong sân nhà anh H5, còn C đứng nói chuyện với anh H5 và dặn không được nói với ai việc C mượn xe của anh H5 rồi C dặn H1 không được nói sự việc C đốt xe cho bất kỳ ai. Sau đó, C và H1 đi bộ về nhà ngủ. Đến khoảng 3h00' cùng ngày, một số người dân đi đường phát hiện xe ôtô của anh H bị bốc cháy nên đã hô hoán dập lửa. Hậu qủa: một phần phía sau của xe ôtô đã bị cháy làm hư hỏng.
Đến chiều tối ngày 11/8/2021, C đi một mình đến ruộng lúa nhà ông H4, nhặt 02 chiếc áo mưa và túi nilon mang ra khu vực bụi cây cách đó khoảng 50m châm lửa đốt để tiêu hủy, tránh bị phát hiện.
Ngày 16/08/2021, biết tin Cơ quan Công an đang xác minh, truy tìm chiếc xe máy là phương tiện gây án, C đã nói với H1 đi cùng đến nhà H5 mượn chiếc tốc-nơ-vít của anh H5, tháo 02 cánh yếm của chiếc xe máy BKS 36G1-007.82 nhằm thay đổi đặc điểm nhận dạng của xe. Sau đó, C mang 02 cánh yếm này vào bếp nhà H5 cất giấu và tiếp tục dặn H5 không được nói với ai việc cho C mượn xe máy vào tối ngày 10/8/2021. Do không biết sự việc C và H1 đốt xe ôtô của H và không rõ vấn đề gì nên anh H5 nhận lời đồng ý.
Ngày 08/10/2021, Mai Văn H1 xin đầu thú tại Công an huyện N, khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của bản thân. Hành vi phạm tội của Mai Văn H1 đã được khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử ngày 08/7/2022, về tội “Che giấu tội phạm”.
Đối với Nguyễn Văn C: Khi biết việc bản thân đốt xe bị phát hiện, đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 17/11/2023 bị bắt truy nã.
* Hiện trường vụ án: xảy ra tại Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn Y, xã N, huyện N, Thanh Hóa.
Hiện trường vụ cháy xe ô tô nhãn hiệu Mazda, màu sơn trắng, đeo BKS 36A-27839. Hiện xe đang đậu phía trước cửa ở hành lang của gia đình ông Mai Văn G, đậu xe quay chếch về hướng T. Lấy cột điện nằm ở góc phía Đông Nam nhà ông Mai Văn G có ký hiệu 5L₁TBA1 làm điểm mốc thấy: trục sau bên trái cách mốc 2,7m, cách mép đường phía Tây Quốc lộ A là 1,9m; trục sau bên phải cách mốc 3,65m; cách mép đường phía Tây Quốc lộ A là 0,3m; trục trước bên phải cách mốc 5,96m, cách mép đường phía Tây Quốc lộ A là 1,4m.
Từ hiện trường nhìn ra xung quanh thấy: phía Đông là đường Quốc lộ 10; phía Tây tiếp giáp nhà ông Mai Văn G; phía Nam tiếp giáp ngõ vào Tổ dân cư số 5 của thôn Y, xã N (lối vào nhà chủ xe Phạm Huy H): phía Bắc tiếp giáp với nhà anh Mai Văn S.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo chiều từ N ra B, từ ngoài vào trong thấy:
- Toàn bộ khu vực khoang sau xe (cốp xe) phần lớp sơn màu trắng bên ngoài đã bị cháy và nhiệt tác động, làm bong tróc hoàn toàn, để lộ thành xe chuyển màu xanh đen và nâu đỏ, kính chắn gió sau xe bị nhiệt tác động làm nóng cháy, rạn nứt hoàn toàn, rơi rớt xuống dưới; bánh sau bên trái bị cháy và nhiệt tác động một phần, làm than hóa phần vỏ lốp cao su theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái; bánh sau bên phải bị nhiệt tác động nhẹ hơn, bánh đã bị xẹp hơi và bị nhiệt tác động một phần. Toàn bộ khu vực này có chiều hướng nhiệt tác động từ ngoài vào trong, từ phải qua trái, từ sau về trước. Tương ứng vị trí trên, phía dưới nền đường có nhiều sản phẩm cháy đã bị nhiệt tác động làm than hóa, biến dạng đóng thành các tảng, tương ứng với vị trí cách đuôi xe về bên phải 0,5m trên nắp miệng cống có 01 mảng nhựa (sáng màu) có kích thước (35x42)cm đã bị cháy và nhiệt tác động bám chặt vào mặt nắp cống. Kiểm tra các hệ thống đường đây diện phía sau đuôi xe (hệ thống điện cấp nguồn các đèn xe phía sau) đã bị cháy và nhiệt tác động còn trơ phần lõi đồng. Kiểm tra không phát hiện dấu vết chạm chập. Kiểm tra khu vực nắp bình xăng đã bị nhiệt tác động làm bung bật khỏi vị trí ban đầu, lớp roang cao su đã bị than hóa, biến dạng. Khu vực bên trong khoang cốp tất cả các thiết bị nội thất bên trong khoang này đã bị cháy và nhiệt than hóa biến dạng, lốp dự phòng bên trong cũng đã bị nhiệt hóa còn trơ phần tang bánh. Toàn bộ hệ thống điện trong khu vực khoang này đã bị cháy và nhiệt tác động làm than hóa lớp vỏ bên ngoài còn trơ phần lõi đồng. Kiểm tra không có dấu vết chạm chập mạch điện. Chiều hướng nhiệt tác động trong khu vực lốp thể hiện: theo chiều từ ngoài vào trong, từ sau về trước. Toàn bộ hệ thống nội thất trong xe (khoang ghế sau và khoang ghế trước) đã bị nhiệt tác động một phần. Khu vực bị nhiệt tác động mạnh nhất tương ứng với hàng ghế sau của xe đã bị nóng cháy lớp vỏ đệm mút bên ngoài. Chiều hướng nhiệt tác động theo chiều từ sau về trước. Bên ngoài thân xe tương ứng với khoang ghế sau và khoang ghế trước thì kính chắn gió xung quanh bị nhiệt tác động một phần, mặt trong có bám nhiều muội khói đen phần lớp sơn ngoài thân xe tương ứng với hai khoang trên chỉ bị nhiệt tác động nhẹ theo chiều từ sau về trước. Khu vực khoang máy và phần đầu xe vẫn còn nguyên trạng. Kiểm tra không phát hiện dấu vết gì nghi vấn.
Trên mặt đường ngõ vào Tổ dân cư số 5 thôn Y phát hiện 01 bật lửa màu xanh, không còn bánh răng, cách mép đường phía Tây Quốc lộ A là 18m, cách cổng nhà bà Nguyễn Thị G1 2,33m (M1). Tại vị trí khu vực nền xe trên nền mặt đường (tương ứng với vị trí khu vực giữa khoang cốp xe) phát hiện 01 bật lửa ga màu đỏ đã bị nhiệt tác động làm cháy xém một phần (M2).
* Vật chứng: Thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường:
+ 01 bật lửa màu xanh, không còn bánh răng (Mẫu ký hiệu M₁);
+ 01 bật lửa ga màu đỏ đã bị nhiệt tác động làm cháy xém 1 phần (Mẫu ký hiệu M2);
+ Thu sản phẩm cháy phía dưới gầm xe (tương ứng khu vực cốp sau xe) ký hiệu M3 - đã sử dụng hết trong quá trình giám định;
+ Thu mảng nhựa màu sáng tại vị trí cách đuôi xe 0,5m trên mặt nắp cống như mô tả ở trên, ký hiệu M4 - đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Mai Văn H1 giao nộp 01 điện thoại di động Sam Sung, gắn số máy 0963.123.447 màn hình bị nứt vỡ- là điện thoại H1 dùng liên lạc hàng ngày.
Ngày 09/10/2021 chị Nguyễn Thị L2 (là vợ anh Hoàng Đình H2) giao nộp: 01 xe mô tô Wave anpha BKS 36G1-007.82 (cánh yếm ngoài đã tháo) và 02 cánh yếm xe màu đen đã cũ. Ngày 28/11/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy và 02 yếm xe trên cho chủ sở hữu là anh Hoàng Đình H2.
Đối với ôtô bị cháy (M, BKS: 36A-278.39): Sau khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã bàn giao lại cho bị hại Phạm Huy H.
Kết luận giám định số 2751/PC09 ngày 31/8/2021 của Phòng K Công an tỉnh T.
Trên bề mặt 01 bật lửa màu xanh (ký hiệu M1) gửi giám định có AND người, do lượng AND ít nên không xác định được hồ sơ kiểu gen.
Trên bề mặt 01 bật lửa màu đỏ (ký hiệu M2) gửi giám định không phát hiện thấy AND người.
Kết luận giám định số 2662/PC09 ngày 20/8/2021 của Phòng K Công an tỉnh T:
Vùng cháy đầu tiên: Căn cứ vào các dấu vết tại hiện trường, chiều hướng ám khói và mức đo tham hóa cho thấy vùng xuất phát cháy tại khu vực mặt trên, bên phải cốp của xe ô tô BKS 36A-278.39.
Nguyên nhân cháy: Loại trừ nguyên nhân cháy do chập mạch điện vì kiểm tra hệ thống điện của xe ôtô BKS 36A-278.39 không có dấu hiệu chập mạch điện.
Trên cơ sở nghiên cứu các dấu vết cháy tại hiện trường và kết quả giám định mẫu vật gửi đến giám định cho thấy: Có sự tác động trực tiếp nguồn nhiệt (lửa) vào khu vực mặt trên, bên phải của cốp xe ô tô đeo BKS 36A-278.39 gây ra vụ cháy trên.
- Kết luận định giá tài sản số 161/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N, kết luận:
Giá trị của phần tài sản bị hư hỏng của xe ô tô Mazda 6 màu trắng BKS: 36A-278.39 là: 298.364.000₫.
- Kết luận định giá tài sản số 142/KL-HĐĐGTS ngày 29/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N, kết luận:
01 ôtô Mazda 6 màu trắng BKS: 36A-278.39 tại thời điểm ngày 11/8/2021 trị giá 566.667.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Huy H yêu cầu Nguyễn Văn C bồi thường theo quy định của pháp luật. Nguyễn Văn C đã tác động đến gia đình giao nộp Cơ quan điều tra bồi thường cho anh H 20.000.000₫ .
Mai Văn H1 là người đã điều khiển xe máy chở C đi đốt xe, nhưng không được C trao đổi, bàn bạc hay nói rõ mục đích đi đâu, làm gì trước khi C thực hiện hành vi đốt xe ô tô BKS 36A-278.39. Tuy nhiên khi biết C đốt chiếc xe trên, H1 đã không có hành động gì ngăn chặn, dập lửa mà điều khiển xe máy chở C rời khỏi hiện trường. Sau đó cùng với C tìm cách che giấu hành vi phạm tội của C như: không khai báo việc C mượn xe máy của H2 đi thực hiện hành vi đốt xe của H; cùng C tháo yếm xe máy, thay đổi đặc điểm xe nhằm tránh để Cơ quan điều tra phát hiện được đặc điểm phương tiện gây án. Hành vi của H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Che giấu tội phạm”, quy định tại khoản 1 Điều 389 Bộ luật Hình sự (Mai Văn H1 đã bị xử phạt 15 tháng tù cho được hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, về tội: “Che giấu tội phạm” theo Bản án số 23/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn).
Hoàng Đình H2 là người đã cho Nguyễn Văn C mượn chiếc xe mô tô BKS 36G1-007.82 để C sử dụng vào đêm ngày 10/8/2021. Mặc dù thấy C căn dặn mình không được cho ai biết việc cho C mượn xe máy và việc C, H1 tháo yếm xe máy BKS 36G1-007.82 để cất giấu. Tuy nhiên, Hoàng Đình H2 không biết việc C thực hiện hành vi đốt xe của H, không biết động cơ, mục đích của C tháo yếm xe để làm gì. Sau khi Cơ quan điều tra triệu tập làm việc, Hoàng Đình H2 đã hợp tác khai báo, góp phần làm rõ đối tượng gây án. Vì vậy, hành vi này của H2 không cấu thành tội phạm hình sự.
Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số: 70/CTr-VKS-P3 ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn C, về tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 4 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng khoản 4 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo C từ 11 năm đến 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2023.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; Điều 589 BLDS, đề nghị buộc Nguyễn Văn C phải bồi thường 298.364.000đ cho anh Phạm Huy H, bị cáo cường đã bồi thường 20.000.000đ, buộc bị cáo C còn phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh Phạm Huy H số tiền 278.364.000₫ (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng). Trả lại cho anh Phạm Huy H 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) theo số tài khoản 3949.0.1054196.00000 ngày 07/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm có: 01 bật lửa màu xanh, không còn bánh răng và 01 bật lửa ga màu đỏ đã bị nhiệt tác động làm cháy xém 1 phần.
Trả lại cho anh Mai Văn H1 01 điện thoại di động S, gắn số máy 0963.123.447 màn hình bị nứt vỡ.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Về tội danh, tình tiết tăng nặng, khung khoản, điều luật không có ý kiến thống nhất với quan điểm của viện kiểm sát. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, cho bị cáo được hưởng dưới mức Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội, khắc phục lỗi lầm của mình sớm trả tiền cho bị hại, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn C:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của bị hại; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Xuất phát từ việc cho rằng vì bị anh Phạm Huy H tố giác mà 06/3/2019, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn tuyên phạt 09 tháng tù, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Sau khi chấp hành xong bản án về địa phương, C nảy sinh ý định đốt xe ô tô của anh H để trả thù.
Để thực hiện ý định đốt xe ôtô của anh H, C lên kế hoạch, chuẩn bị sẵn công cụ, phương tiện gây án; nghiên cứu quy luật đi lại, chỗ đỗ xe ôtô vào ban đêm của anh H; nghiên cứu cung đường đến và rời khỏi hiện trường gây án; đồng thời thay đổi đặc điểm phương tiện để không bị phát hiện. Sau đó, lợi dụng thời tiết mưa gió, khoảng 3h00' ngày 11/8/2021 tại đường Q, thuộc địa phận thôn Y, xã N, huyện N, Thanh Hóa, Nguyễn Văn C thực hiện hành vi đốt xe ôtô nhãn hiệu Mazda 6, BKS: 36A-278.39 của anh Phạm Huy H: C mở nắp can xăng đem theo, tưới một ít xăng lên phần đuôi xe ôtô, rồi châm lửa đốt miệng can xăng, ném can xăng đang cháy vào vị trí đuôi bên phải xe ôtô M1 6, BKS: 36A-278.39, rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường. Hậu quả: do được một số người dân đi đường phát hiện dập lửa nhưng một phần phía sau của xe ôtô Mazda 6, BKS: 36A-278.39 bị cháy hư hỏng, giá trị thiệt hại 298.364.000₫ (xe ôtô M1 6, BKS: 36A-278.39 trị giá: 566.667.000₫).
Nguyễn Văn C nhận thức rõ hành vi của mình: sử dụng xăng đốt xe ô tô Mazda 6, BKS: 36A-278.39 là nguy hiểm cho xã hội, C buộc phải thấy trước hậu quả xảy ra (có thể gây cháy toàn bộ xe nếu không được ngăn chặn kịp thời), sau khi tưới xăng và châm lửa đốt xe C để mặc cho hậu quả xảy ra (nhanh chóng rời khỏi hiện trường). Bản thân C không thể kiểm soát, khống chế việc lửa xăng gây cháy bao nhiêu phần chiếc xe. Do được người đi đường phát hiện, ngăn chặn, dập lửa kịp thời nên chiếc xe mới chỉ bị cháy một phần. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự về giá trị tài sản theo kết quả định giá đối với xe ôtô nhãn hiệu Mazda 6, BKS: 36A-278.39 là 566.667.000đ.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì trả mục đích trả thù.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 178 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 11/2019/HS-ST, ngày 06/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn xử phạt 09 tháng tù, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên là “tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 BLHS do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì cho rằng vì bị anh Phạm Huy H tố giác mà bị phạt tù, mà bị cáo có hành vi trả thù đốt xe ôtô do đó bị cáo phạm tội vì động cơ đê hèn nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 BLHS.
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và bồi thường cho anh H được số tiền 20 triệu đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và có 2 tình tiết định tăng nặng nên cần phải xử phạt tù để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do nên không cấm hành nghề; bản thân không có khả năng để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 589 BLDS 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường 298.364.000đ cho anh Phạm Huy H là phù hợp, ghi nhận bị cáo đã bồi thường 20.000.000đ, buộc bị cáo C còn phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh Phạm Huy H số tiền 278.364.000₫ (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng). Trả cho anh Phạm Huy H 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) theo số tài khoản 3949.0.1054196.00000 ngày 07/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ đã xử lý Hội đồng xét xử miễn xét.
- 01 bật lửa màu xanh, không còn bánh răng và 01 bật lửa ga màu đỏ đã bị nhiệt tác động làm cháy xém 1 phần thì tịch thu tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng.
- Trả lại cho anh Mai Văn H1 01 điện thoại di động S, gắn số máy 0963.123.447 màn hình bị nứt vỡ vì không liên quan đến vụ án.
[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 13.918.000₫ (Mười ba triệu chín trăm mười tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Đề nghị hình phạt và bồi thường thiệt hại của Viện kiểm sát cho bị cáo và bị hại tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ khoản 4 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
* Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn C 11 (mười một) năm 6 (sáu). Thời hạn tù được tính từ ngày 17 tháng 11 năm 2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
* Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; các Điều 584, 585, 589 BLDS 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường 298.364.000đ cho anh Phạm Huy H, ghi nhận bị cáo đã bồi thường 20.000.000đ, buộc bị cáo C còn phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho anh Phạm Huy H số tiền 278.364.000đ (Hai trăm bảy mươi tám triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong số tiền phải trả, bên phải thi hành án, còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trả cho anh Phạm Huy H 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) theo số tài khoản 3949.0.1054196.00000 ngày 07/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm có: 01 bật lửa màu xanh, không còn bánh răng và 01 bật lửa ga màu đỏ đã bị nhiệt tác động làm cháy xém 1 phần.
Trả lại cho anh Mai Văn H1 01 điện thoại di động S, gắn số máy 0963.123.447 màn hình bị nứt vỡ.
Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 154/2024/TV-CTHADS ngày 7 tháng 6 năm 2024 giữa Phòng PC02 Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo: Nguyễn Văn C chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 13.918.000₫ (Mười ba triệu chín trăm mười tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 7 năm 2024).
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Đại Long |
Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự về tội hủy hoại tài sản
- Số bản án: 133/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo
