Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày: 14-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Thẩm phán: Ông Hoàng Trí Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Việt

Ông Từ Văn Hoàng

Ông Nguyễn Ngọc Cang

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2024/HSST ngày 26/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/HSST-QĐ ngày 28/10/2024 đối với bị cáo:

Trần Quang T, sinh năm 1994 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: 350/6 T, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi ở hiện tại: B N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Q, sinh năm 1964 và bà Võ Thị L, sinh năm 1969; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 anh em; Vợ, con: Chưa;

Tiền án:

  • - Tại Bản án số 113/2017/HSST ngày 23/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Tại Bản án số 105/2019/HSST ngày 06/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” .
  • - Tại Bản án số 217/2020/HSST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Không;

Bị bắt ngày 02/6/2024, đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

Những người tham gia tố tụng khác:

  • * Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Trần Đức H – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt)
  • * Bị hại: Ông Dương Thành L1, sinh năm 1977; Địa chỉ: 4 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Dương Thúy K, sinh năm 1969; Địa chỉ: 8 P, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

  • * Người làm chứng:
  • - Bà Đoàn Thị Thanh T1, sinh năm 1988; Nơi đăng ký thường trú: 171/59 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
  • - Bà Đoàn Thị Diễm M, sinh năm 1995; Nơi đăng ký thường trú: 171/59 N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Đoàn Thị Thanh T1 (sinh năm 1988; trú tại số A N, phường T, TP V) và anh Dương Thành L1 (sinh năm 1977; trú tại số D N, phường T, TP V) đã từng quan hệ tình cảm nam nữ nhưng đã chia tay. Đến tháng 3/2024, chị T1 quan hệ tình cảm với Trần Quang T là đối tượng đã từng có 03 tiền án nên anh L1 ghen tức, nhiều lần tìm gặp chị T1 và T để gây sự.

Ngày 02/06/2024, khi chị T1 và T đang ở nhà số A N, phường G, TP V thì anh L1 cùng với chị Đoàn Thị Diễm M (sinh năm 1995; trú tại số A N, phường T, TP V) đến gặp chị T1. Sau đó giữa anh L1 và chị T1 xô xát, to tiếng cãi nhau ở tầng trệt. Lúc này, T ở trên tầng lầu nghe ồn ào, nghĩ anh L1 đến gây sự nên T cầm theo chiếc túi xách bên trong có 02 con dao dài khoảng 35 cm, cán gỗ, lưỡi kim loại sắc nhọn đi xuống. Tại tầng trệt, T thấy anh L1 đang đánh chị T1 bằng tay không nên T rút 02 con dao mang theo cầm trên hai tay đâm nhiều nhát vào vai trái, lưng, bẹn đùi anh L1. Sau đó, T cùng chị T1 đưa anh L1 đi cấp cứu nhưng anh L1 đã chết trên đường do mất máu cấp.

Sau khi gây án, T về nhà đã đưa 02 con dao là hung khí cho Trần Quang T2 (sinh năm 1997; trú tại 3 T, phường C, TP V; là em ruột của T) nhờ T2 mang đi vứt, còn T đến Công an để đầu thú.

Về phía T2, khi T đưa dao nhờ đi vứt thì T không nói đã gây án và do là anh em ruột nên T2 không hỏi lại mà mang dao đi vứt vào thùng rác bên cạnh nhà số G đường C, phường H, TP V. Sau khi biết sự việc, T2 đã trình báo, chỉ dẫn Cơ quan điều tra đến hiện trường thu giữ được hung khí T dùng để gây án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập chứng cứ, vật chứng và tiến hành khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cáo, tạm giam đối với Trần Quang T về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và tiến hành các hoạt động điều tra và thực nghiệm điều tra theo quy định.

Tại Kết luận giám định tử thi số 190/KLGĐ TT-PC09 ngày 02/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B đối với nạn nhân Dương Thành L1 xác định:

“- Kết quả khám nghiệm:

  • + Hai vết thương rách da vùng bả vai trái, hình khe, mép gọn, kích thước lần lượt từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài là 0.6cm x 0.3cm và 4cm x 1.2cm.
  • + Vết thương rách da vùng thắt lưng trái đoạn ngang mào chậu, hình khe, mép gọn, góc trên tù, góc dưới nhọn, kích thước 2.5cm x 1.2cm, góc dưới vết thương có đuôi dài 2.5cm.
  • + Vết thương rách da vùng bẹn đùi trái, hình khe, mép gọn, góc trên nhọn, góc dưới tù, kích thước 2.5cm x 1cm, vết thương này có rãnh xuyên thấu vào trong theo chiều từ trái sang phải. Vết thương rách da vùng bẹn đùi trái gây tụ máu trong cơ vùng bẹn-đùi trái, gây đứt động mạch đùi trái, kích thước 1.5cm x 0.3cm.

- Kết luận nguyên nhân chết: Dương Thành L1 chết do Vết thương vùng bẹn -đùi trái gây đứt động mạch đùi trái, mất máu cấp.

- Kết luận khác: Vật tác động gây nên các vết thương rách da trên cơ thể nạn nhân là vật cứng bản dẹt, cạnh sắc, có đầu nhọn gây ra:

  • + Tác động trực tiếp vào vùng bẹn-đùi cơ thể nạn nhân theo chiều từ trái sang phải.
  • + Tác động trực tiếp vào vùng bả vai cơ thể nạn nhân theo chiều từ trên xuống dưới.
  • + Tác động trực tiếp vào vùng thắt lưng cơ thể nạn nhân theo chiều từ sau ra trước."

Tại Kết luận giám định ADN số 866/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của P Bộ C tại TP Hồ Chí Minh xác định: “Mẫu máu của Dương Thành L1, thông qua đối chiếu với các mẫu từ Al tới A7, xác định vệt máu trên các mẫu vật trùng kiểu gen với kiểu gen của nạn nhân L1”.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Quang T đã khai nhận và diễn tả lại hành vi như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra, kết quả giám định. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng tại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ về nguyên nhân, bối cảnh, diễn biến sự việc và đặc điểm hung khí gây án. Qua đánh giá diễn biến và tính chất hành vi do bị cáo đã thực hiện, xét thấy bản thân T là đối tượng đã từng có 03 tiền án; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà T sử dụng 02 con dao dài khoảng 35 cm, cán gỗ, lưỡi kim loại sắc nhọn đâm nhiều nhát vào cơ thể anh Dương Thành L1, trong đó có vết thương vùng bẹn - đùi trái là vùng trọng yếu trên cơ thể gây đứt động mạch đùi trái, mất máu cấp dẫn đến nạn nhân L1 tử vong. Hành vi của T có tính chất côn đồ hung hãn, cố ý tước đoạt tính mạng nạn nhân; đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại các điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

* Vật chứng:

+ Cơ quan điều tra thu giữ:

  • - 01 con dao thái lan, lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, cán dao màu vàng; cán dao dài 21,3cm; lưỡi dao dài 12cm; chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao nhọn; dao đã qua sử dụng (ký hiệu A3);
  • - Mẫu dịch màu nâu đỏ (nghi là máu) phát hiện và tạm giữ tại khu vực bếp, được thấm trong gạc y tế (ký hiệu A4);
  • - Mẫu dịch màu nâu đỏ (nghi là máu) phát hiện và tạm giữ tại khu vực phòng khách, được thấm trong gác y tế (ký hiệu A5);
  • - 01 túi da màu đen có hoa văn caro có kích thước 22cm x 14cm x 7.5cm, có dây (quai đeo) trên thân túi có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A6);
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, màn hình đã bị nứt vỡ góc trên bên trái; trên thân điện thoại có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A7).
  • - 02 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ (ký hiệu A1, A2) là 02 con dao Thái dùng để đâm anh L1;
  • - 01 Áo khoác màu trắng tay dài có mũ
  • - 01 Áo thun màu vàng, ngắn tay, cổ áo có ký hiệu SKY
  • - 01 Quần Jean màu đen xám, quần dài

Các đồ vật nêu trên được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh quản lý.

+ Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave biển số 72C2-083.03; số khung 3909HY639559 số máy JA39E0614689. Kết quả điều tra xác định xe của ông Trần Q (sinh năm 1964; trú tại 2 T, phường C, TP V; là bố của bị cáo T) cho T mượn để đi lại. Ông Q không biết việc T thực hiện hành vi phạm tội nên ngày 23/8/2024 cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 1160D/QĐ-CSHS-Đ1 trả lại xe mô tô cho ông Q theo quy định.

* Về phần dân sự:

Bà Dương Thúy K (sinh năm 1969; trú tại 8 P, phường A, thành phố V; chị ruột của bị hại Dương Thành L1) đại diện bị hại theo Giấy ủy quyền ngày 28/6/2024 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V yêu cầu bị cáo T bồi thường 200 triệu đồng. Bị cáo và gia đình chưa bồi thường.

2. Tại Cáo trạng số 140/CT-VKSBRVT-P2 ngày 25/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa sơ thẩm:

3.1. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Bị cáo Trần Quang T phạm tội “Giết người”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang T mức án từ 17 (mười bảy) đến 19 (mười chín) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng)

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 con dao thái lan, lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, cán dao màu vàng; cán dao dài 21,3cm; lưỡi dao dài 12cm; chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao nhọn; dao đã qua sử dụng (ký hiệu A3);
  • + 01 túi da màu đen có hoa văn caro có kích thước 22cm x 14cm x 7.5cm, có dây (quai đeo) trên thân túi có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A6);
  • + 02 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ (ký hiệu A1, A2) là 02 con dao Thái dùng để đâm anh L1;
  • + 01 Áo khoác màu trắng tay dài có mũ
  • + 01 Áo thun màu vàng, ngắn tay, cổ áo có ký hiệu SKY
  • + 01 Quần Jean màu đen xám, quần dài

- Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, màn hình đã bị nứt vỡ góc trên bên trái; trên thân điện thoại có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A7).

3.2. Luật sư Trần Đức H phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo:

Về tội danh: Không ý kiến về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố;

Về hình phạt: Đồng ý áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp bị kích động về tinh thần do có hành vi trái trái pháp luật của nạn nhân như bị hại đánh bị cáo trước, trước đó bị hại nhiều lần đến gặp bị cáo và chị T1 để gây khó; sau khi gây án bị cáo đưa bị hại đi cấp cứu và ra đầu thú, do đó đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

3.3. Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sư và không ý kiến bổ sung.

3.4. Đại diện hợp pháp của bị hại – bà Dương Thúy K không có ý kiến.

3.5. Người làm chứng bà Đoàn Thị Thanh T1 không có ý kiến.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Vào ngày 02/6/2024, tại nhà số A N, phường G, TP V, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà Trần Quang T là đối tượng đã từng có 03 tiền án chưa xóa án tích sử dụng 02 con dao dài khoảng 35 cm, cán gỗ, lưỡi kim loại sắc nhọn đâm nhiều nhát vào cơ thể anh Dương Thành L1, trong đó có vết thương vùng bẹn - đùi trái là vùng trọng yếu trên cơ thể gây đứt động mạch đùi trái, mất máu cấp dẫn đến nạn nhân L1 tử vong. Hành vi của T có tính chất côn đồ hung hãn, cố ý tước đoạt tính mạng con người.

Từ diễn biến hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết bị cáo Trần Quang T đã phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại các điểm n, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Quang T là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của ông Dương Thành L1, hậu quả dẫn đến ông L1 tử vong. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội và gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với quần chúng nhân dân nơi xảy ra sự việc. Do đó, cần có mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 200 triệu đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại, sau khi gây án bị cáo ra đầu thú do đó được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự.

Bà Dương Thúy K (chị ruột của bị hại Dương Thành L1) đại diện bị hại yêu cầu bị cáo T bồi thường 200 triệu đồng, bị cáo đồng ý. Do đó ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại, buộc bị cáo Trần Quang T bồi thường số tiền 200 triệu đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại.

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 con dao thái lan, lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, cán dao màu vàng; cán dao dài 21,3cm; lưỡi dao dài 12cm; chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao nhọn; dao đã qua sử dụng (ký hiệu A3);
  • + 01 túi da màu đen có hoa văn caro có kích thước 22cm x 14cm x 7.5cm, có dây (quai đeo) trên thân túi có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A6);
  • + 02 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ (ký hiệu A1, A2) là 02 con dao Thái dùng để đâm anh L1;
  • + 01 Áo khoác màu trắng tay dài có mũ
  • + 01 Áo thun màu vàng, ngắn tay, cổ áo có ký hiệu SKY
  • + 01 Quần Jean màu đen xám, quần dài

- Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Dương Thành L1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, màn hình đã bị nứt vỡ góc trên bên trái; trên thân điện thoại có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A7).

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n, p khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Trần Quang T 19 (mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 6 năm 2024.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Trần Quang T bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Dương Thành L1 số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • + 01 con dao thái lan, lưỡi dao bằng kim loại, màu trắng, cán dao màu vàng; cán dao dài 21,3cm; lưỡi dao dài 12cm; chỗ rộng nhất 02cm, mũi dao nhọn; dao đã qua sử dụng (ký hiệu A3);
  • + 01 túi da màu đen có hoa văn caro có kích thước 22cm x 14cm x 7.5cm, có dây (quai đeo) trên thân túi có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A6);
  • + 02 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ (ký hiệu A1, A2) là 02 con dao Thái dùng để đâm anh L1;
  • + 01 Áo khoác màu trắng tay dài có mũ
  • + 01 Áo thun màu vàng, ngắn tay, cổ áo có ký hiệu SKY
  • + 01 Quần Jean màu đen xám, quần dài

- Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Dương Thành L1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, màu đen, màn hình đã bị nứt vỡ góc trên bên trái; trên thân điện thoại có dính chất màu nâu đỏ (ký hiệu A7).

(Hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 108/BB-CTHADS ngày 26/9/2024).

4. Về án phí sơ thẩm:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo nộp 10.000.000đ (Mười triệu đồng)

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về giết người

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger