Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 133/2024/HS-ST

Ngày 10-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa đối với các bị cáo:

  1. Lê Minh S; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1961 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: Khu phố Đ, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Nhà không số, Tổ A, Ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết); tiền án, tiền sự: Năm 2022 bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi Tổ chức đánh bạc; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Thạch T; sinh ngày 29 tháng 10 năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: 18/6 đường T, Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Ở và bà Thạch Thị T1 (chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày

05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Nguyễn Văn L; sinh ngày 06 tháng 9 năm 1986 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú: Không có; nơi cư trú:Nhà không số, Tổ C, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị N1 (chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
  2. Trần Văn N2; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N3 và bà Huỳnh Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Lâm Sơn H1; sinh ngày 22 tháng 02 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 118/5 Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, Tổ D, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn T2 (chết) và bà Huỳnh Thị Đ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. Dương Văn T3; sinh ngày 29 tháng 9 năm 1993 tại tỉnh Hậu Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: 5 N, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn C và bà Bùi Bích H2; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. Phạm Thanh T4; sinh ngày 14 tháng 8 năm 1999 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: H Tổ D Ấp B, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tân T5 và bà Nguyễn Ngọc T6; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Vũ P, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Nhà T H, Tổ B, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Trang Hải Đ1, sinh năm 1994. (Có mặt)

    HKTT: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  2. Ông Dương Quốc L1, sinh năm 1998.

    Địa chỉ: Nhà T Tổ D, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1980.

    Địa chỉ: C khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  4. Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Nhà không số, Tổ C, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Ông Lê Văn P2, sinh năm 1971.

    Địa chỉ: Nhà trọ không số, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Ông Đặng Hoàng T7, sinh năm 1985. (Có mặt)

    Địa chỉ: 3 Khu phố E, P. T, Quận A, TP ..

  7. Ông Huỳnh Văn H3, sinh năm 1992. (Có mặt)

    HKTT: 103D ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

    Địa chỉ: Nhà trọ không số, Khu phố D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  8. Ông Phạm Cẩm M, sinh năm 1971.

    Địa chỉ: A Tổ A, Ấp D, xã N, H. H, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến đối chất tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp ổn định và cần tiền tiêu xài nên Lê Minh S nảy sinh ý định đứng ra tổ chức cho người khác chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đá gà cựa sắt để thu tiền xâu của các con bạc 5% số tiền cược từ khoảng đầu tháng 11/2023. S chọn bãi đất trống thuộc tổ A ấp B xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh làm địa điểm để tổ chức đánh bạc, đồng thời tự chuẩn bị một cái cân màu xanh loại 05 kg để cân gà, băng keo để băng cựa, tấm nhựa trong suốt và gọi điện người tham gia đá gà đến khi cần.

Lúc khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, nhóm Lê Thạch T, Nguyễn Văn L, Trần Văn N2 mang theo một con gà xám (của T) và nhóm Lâm Sơn H1, Phạm Thanh T4, Dương Văn T3 mang theo một con gà đỏ (của H1) đến trường gà tại bãi đất trống thuộc tổ A ấp Á xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do

Lê Minh S đứng ra tổ chức đá gà cá cược thắng thua bằng tiền. Hai bên thoả thuận thông qua Lê Minh S làm trọng tài đứng ra cân gà, cung cấp băng keo va thu tiền xâu 150.000 đồng. Hai bên mang gà lên cân thì con gà xám nặng 2,4kg, con gà đỏ nặng 2,2kg nên thỏa thuận gà xám đá chấp gà đen ăn 8 (có nghĩa là nếu gà đỏ thua chỉ thua 80% số tiền cược) thì cả hai nhóm đều đồng ý.

Cánh gà xám gồm Lê Thạch T hùn số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Văn L và Trần Văn N2 mỗi người hùn số tiền 500.000 đồng; cánh gà đỏ Lâm Sơn H1 hùn số tiền 800.000 đồng, Phạm Thanh T4 hùn số tiền 400.000 đồng và Dương Văn T3 hùn số tiền 1.200.000 đồng. Ngoài ra còn có nhóm người tham gia cược giàn xáo bao gồm: Nguyễn Vũ P và Trang Hải Đ1 hùn mỗi người 500.000 đồng tổng là 1.000.000 đồng cá cược theo gà xám với Dương Quốc L1 cược 1.000.000 đồng theo gà đỏ. Nguyễn Văn P1 cược 500.000 đồng theo gà xám với Huỳnh Văn D cược 500.000 đồng theo gà đỏ. Lê Văn P2 cược 200.000 đồng theo gà đỏ với Đặng Hoàng T7 cược 200.000 đồng theo gà xám. Huỳnh Văn H3 cược 200.000 đồng theo gà đỏ với Phạm Cẩm M cược 200.000 đồng theo gà xám. Lê Minh S biết việc các đối tượng tham gia đá giàn xáo nhưng do không quản lý được việc ghi nhớ chung chi nên S bỏ mặc chỉ tập trung vào hai cánh gà.

Trận gà này gà đỏ đá thắng gà xám, hai bên đang chung chi cho nhau thì bị Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện H phối hợp Công an xã N, huyện H phát hiện bắt quả tang đưa về trụ sở làm việc.

Vật chứng tạm giữ:

  • 01 (một) con gà nặng 2,4kg (màu xám) và 01 (một) con gà nặng 2,2kg (màu đỏ) cùng 02 cặp cựa sắt. Do hai con gà đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiêu hủy theo quy định.
  • 01 cái cân loại 5kg màu xanh, 01 tấm nhựa trong suốt, 02 cuộn băng keo, 01 điện thoại di động hiệu Oppo, Số tiền 428.000 đồng thu của Lê Minh S.
  • Số tiền như sau: Lê Thạch T: 2.000.000 đồng, Trần Văn N2: 500.000 đồng, Lâm Sơn H1: 1.200.000 đồng, Phạm Thanh T4: 700.000 đồng, Dương Văn T3: 1.700.000 đồng, Dương Quốc L1: 2.000.000 đồng, Nguyễn Văn P1: 650.000 đồng, Lê Văn P2: 400.000 đồng, Huỳnh Văn H3: 200.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 80/CT-VKSHM ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử bị cáo Lê Minh S về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và xét xử các bị cáo Lê Thạch T, Nguyễn Văn L, Trần Văn N2, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với Huỳnh Văn D, Trang Hải Đ1, Nguyễn Vũ P, Đặng Hoàng T7, Phạm Cẩm M, Nguyễn Văn P1, Dương Quốc L1, Lê Văn P2 và Huỳnh Văn H3 hành vi không cấu thành tội đánh bạc, do đó Công an huyện H đã ban hành

Quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quy định. Các đương sự đã nộp xong số tiền theo quyết định xử phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Minh S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thạch T, Trần Văn N2, Lâm Sơn H1, Phạm Thanh T4 và Dương Văn T3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm – 01 năm 06 tháng.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 cặp cựa sắt, 01 cái cân loại 5kg màu xanh, 01 tấm nhựa trong suốt, 02 cuộn băng keo.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Oppo thu của Lê Minh S, số tiền 428.000 đồng thu của Lê Minh S, số tiền 2.000.000 đồng thu của Lê Thạch T, số tiền 500.000 đồng thu của Nguyễn Văn L, số tiền 800.000 đồng thu của Lâm Sơn H1, số tiền 400.000 đồng thu của Phạm Thanh T4, số tiền 1.200.000 đồng thu của Dương Văn T3, số tiền 2.000.0000 đồng thu của Dương Quốc L1, số tiền 650.000 đồng thu của Nguyễn Văn P1, số tiền 400.000 đồng thu của Lê Văn P2, số tiền 200.000 đồng thu của Huỳnh Văn H3.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn L nộp 500.000 đồng. Buộc ông Nguyễn Văn P1 nộp 350.000 đồng, ông Huỳnh Văn H3 nộp 200.000 đồng.
  • Trả lại cho các bị cáo số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội như sau: số tiền 500.000 đồng thu giữ của Dương Văn T3; số tiền 400.000 đồng thu giữ của Lâm Sơn H1; số tiền 400.000 đồng thu giữ của Phạm Thanh T4 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Các bị cáo Lê Minh S, Lê Thạch T, Nguyễn Văn L, Trần Văn N2, Lâm Sơn H1, Phạm Thanh T4, Dương Văn T3 trình bày: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không trình bày bổ sung và không có ý kiến tranh luận với nội dung truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Huỳnh Văn H3 đồng ý tự nguyện nộp lại số tiền từ hành vi đánh bạc là 200.000 đồng. Ông Trang Hải Đ1 và ông Đặng Hoàng T7 không có ý kiến gì đối với vụ án.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo được đoàn tụ với gia đình và chuộc lại lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Xét thấy những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ P, ông Dương Quốc L1, ông Nguyễn Văn P1, ông Huỳnh Văn D, ông Lê Văn P2, ông Phạm Cẩm M vắng mặt, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua phần hỏi và tranh tụng công khai, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh:

Ngày khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, Lê Minh S đã sử dụng khu vực bãi đất trống thuộc tổ A ấp B xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và chuẩn bị cân, tấm nhựa, băng keo tổ chức cho các đối tượng Lê Thạch T, Nguyễn Văn L, Trần Văn N2, Lâm Sơn H1, Phạm Thanh T4, Dương Văn T3 đánh bạc dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, số tiền dùng để đánh bạc là 5.400.000 đồng. Ngoài ra còn có các đối tượng Huỳnh Văn D, Trang Hải Đ1, Nguyễn Vũ P, Đặng Hoàng T7, Phạm Cẩm M, Nguyễn Văn P1, Dương Quốc L1, Lê Văn P2 và Huỳnh Văn H3 tham gia các cược giàn xáo số tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Lê Minh S đã thu lợi bất chính số tiền 428.000 đồng.

[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Minh S là người chủ mưu, khởi xướng tổ chức trường gà bên bãi đất trống đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo Lê Thạch T, Trần Văn N2, Nguyễn Văn L, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 có hành vi đặt cược tham gia đá gà thắng thua bằng tiền. Mặc dù số tiền mà mỗi bị cáo dùng để đánh bạc vào ngày 23/12/2023 là dưới 5.000.000 đồng nhưng thỏa thuận chia phe đặt cược với nhau mỗi bên là 3.000.000 đồng, gà xám đá chấp gà đen ăn 8 (có nghĩa là nếu gà đỏ thua chỉ thua 80% số tiền cược) tổng đặt cược là 5.400.000 đồng (trên 5.000.000 đồng) nên các bị cáo cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền thu trên chiểu bạc mà các bị cáo đã tham gia.

Do đó hành vi của các bị cáo Lê Thạch T, Trần Văn N2, Nguyễn Văn L, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bản cáo trạng số: 80/CT-VKSHM ngày 22 tháng 2 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

...”

Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

...”

[4] Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi của bị cáo S phạm tội “Tổ chức đánh bạc" là nghiêm trọng và hành vi của các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” là ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm

đến trật tự trị an, an toàn xã hội, là mầm mống gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích tư lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức án nghiêm đối với các bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy vậy khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của các bị cáo.

4.1. Bị cáo Lê Minh S trong vụ án này bị cáo giữ vai trò cao nhất là người tổ chức đánh bạc. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu đã từng bị phạt vi phạm hành chính vì hành vi tổ chức đánh bạc. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo S có nhân thân xấu nhưng vẫn không sửa chữa lỗi lầm tiếp tục phạm tội tổ chức đánh bạc do đó cần thiết cách ly bị cáo một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

4.2. Các bị cáo Lê Thạch T, Trần Văn N2, Nguyễn Văn L, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy các bị cáo Lê Thạch T, Trần Văn N2, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 có đủ 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, đã từng bị tạm giam nên đã đủ sức răn đe. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù do đã có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Riêng bị cáo Nguyễn Văn L không có nơi cư trú ổn định nên không áp dụng được Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 do đó cần thiết cách ly bị cáo một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 3 Điều 321, khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn, không có thu

nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 cặp cựa sắt, 01 cái cân loại 5kg màu xanh, 01 tấm nhựa trong suốt, 02 cuộn băng keo do không còn giá trị sử dụng.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Oppo thu của Lê Minh S, số tiền 428.000 đồng thu của Lê Minh S, số tiền 2.000.000 đồng thu của Lê Thạch T, số tiền 500.000 đồng thu của Nguyễn Văn L, số tiền 800.000 đồng thu của Lâm Sơn H1, số tiền 400.000 đồng thu của Phạm Thanh T4, số tiền 1.200.000 đồng thu của Dương Văn T3, số tiền 2.000.0000 đồng thu của Dương Quốc L1, số tiền 650.000 đồng thu của Nguyễn Văn P1, số tiền 400.000 đồng thu của Lê Văn P2, số tiền 200.000 đồng thu của Huỳnh Văn H3 dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
  • Bị cáo Nguyễn Văn L khi đi đánh bạc không mang theo tiền nên buộc nộp 500.000 đồng do có liên quan đến hành vi phạm tội. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Đối với tiền cá nhân của các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho các bị cáo số tiền như sau: số tiền 500.000 đồng thu giữ của Dương Văn T3; số tiền 400.000 đồng thu giữ của Lâm Sơn H1; số tiền 400.000 đồng thu giữ của Phạm Thanh T4 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn P1 và ông Huỳnh Văn H3 nộp lại số tiền dùng để thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: ông Nguyễn Văn P1 nộp 350.000 đồng, ông Huỳnh Văn H3 nộp 200.000 đồng.

[7] Các vấn đề khác: Đối với Huỳnh Văn D, Trang H, Nguyễn Vũ P, Đặng Hoàng T7, Phạm Cẩm M, Nguyễn Văn P1, Dương Quốc L1, Lê Văn P2 và Huỳnh Văn H3 hành vi không cấu thành tội đánh bạc, do đó Công an huyện H đã ban hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quy định. Các đương sự đã nộp xong số tiền theo quyết định xử phạt nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Minh S 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt để thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến ngày 05/02/2024.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 08 (Tám)tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/12/2023.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Thạch T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/6/2024.

Giao bị cáo Lê Thạch T cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Thạch T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lâm Sơn H1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/6/2024.

Giao bị cáo Lâm Sơn H1 cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lâm Sơn H1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Văn N2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/6/2024.

Giao bị cáo Trần Văn N2 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Văn N2 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T4 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/6/2024.

Giao bị cáo Phạm Thanh T4 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phạm Thanh T4 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Dương Văn T3 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/6/2024.

Giao bị cáo Dương Văn T3 cho Ủy ban nhân dân Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Dương Văn T3 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87, 91, 92, 93 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở

lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

(Các bị cáo Lê Thạch T, Trần Văn N2, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 đã được giải thích về chế định án treo).

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tạm giam bị cáo Nguyễn Văn L thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.

  1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 cặp cựa sắt, 01 cái cân loại 5kg màu xanh, 01 tấm nhựa trong suốt, 02 cuộn băng keo.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Oppo thu của Lê Minh S, số tiền 428.000 đồng thu của Lê Minh S, số tiền 2.000.000 đồng thu của Lê Thạch T, số tiền 500.000 đồng thu của Nguyễn Văn L, số tiền 800.000 đồng thu của Lâm Sơn H1, số tiền 400.000 đồng thu của Phạm Thanh T4, số tiền 1.200.000 đồng thu của Dương Văn T3, số tiền 2.000.0000 đồng thu của Dương Quốc L1, số tiền 650.000 đồng thu của Nguyễn Văn P1, số tiền 400.000 đồng thu của Lê Văn P2, số tiền 200.000 đồng thu của Huỳnh Văn H3.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn L nộp 500.000 đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Buộc ông Nguyễn Văn P1 nộp 350.000 đồng, ông Huỳnh Văn H3 nộp 200.000 đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • Trả lại cho các bị cáo:

Số tiền 500.000 đồng thu giữ của Dương Văn T3; số tiền 400.000 đồng thu giữ của Lâm Sơn H1; số tiền 400.000 đồng thu giữ của Phạm Thanh T4 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Các vật chứng của vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Phiếu nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Lê Minh S, Lê Thạch T, Trần Văn N2, Nguyễn Văn L, Lâm Sơn H1, Dương Văn T3, Phạm Thanh T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Hồ Chí Minh
  • - VKSND TP.Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan điều tra Công an H. Hóc Môn;
  • - Chi cục Thi hành án DS H. Hóc Môn;
  • - Nhà tạm giữ Công an H. Hóc Môn;
  • - UBND (CA) phường Thạnh Xuân, Quận 12, Tp. HCM;
  • - UBND (CA) xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND (CA) Phường 5, quận Gò Vấp, Tp. HCM;
  • - UBND (CA) xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, Tp. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Hồng Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lê Minh S 01 (Một) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc". Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 08 (tám) tháng tù về tội "Đánh bạc". Xử phạt bị cáo Lê Thạch T09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc". Xử phạt bị cáo Lâm Sơn H1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc" Xử phạt bị cáo Trần Văn N2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc". Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T4 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc". Xử phạt bị cáo Dương Văn T3 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger