Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số:133/2024/HS-ST

Ngày: 6/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Ngọc Toàn

Ông Trần Đức Lưu

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Ngọc K - Kiểm sát viên.

Ngày 6 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Trường S, sinh năm 1995.

Nơi thường trú: Số A ngõ A L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá:Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân T (đã chết) và bà Phạm Thị T1; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:

  • - Tại Bản án số 177/2017/HS-ST ngày 27/09/2017, bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” ;
  • - Tại Bản án số 57/2019/HS-ST ngày 22/03/2019, bị Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/05/2020.

Bị cáo bị bắt quả tang,bị tạm giữ từ ngày 03/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1959; Nơi thường trú: số A Ngõ A L,N,B,Hà Nội

Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h30 ngày 03/04/2024, tại trước cửa số nhà A G, B, Hà Nội, Tổ công tác của Công an phường G đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ của S 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa thảo mộc khô và 05 hộp giấy bên trong mỗi hộp chứa 01 lọ màu hồng có chữ Roma chill trong chứa dung dịch, S khai nhận là Cần S1 mang đi để bán kiếm lời. Tổ công tác đã đưa S cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.

Quá trình điều tra Đỗ Trường S khai: Ngày 31/03/2024, một đối tượng sử dụng số điện thoại 0778.461.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0983.396.xxx của S hỏi mua ma túy Cần sa và P (thuốc lá điện tử). Nội dung tin nhắn: “Thế b bán cho tôi thêm cái nữa, tổng 6 cái pod với 6 lít cơm (6 lít cơm nghĩa là 600.000₫ ma túy cần sa) 2 củ được không”. S gọi điện lại cho đối tượng và thông báo tổng số tiền là 2.150.000 đồng. Đối tượng không đủ tiền nên chỉ đồng ý mua 5 pod Roma chill và 600.000 đồng ma túy Cần sa. S đồng ý rồi lên mạng xã hội telegram tìm mua ma túy Cần sa và pod. S đã mua 400.000 đồng ma túy Cần sa và 10 pod giá 200.000 đồng/pod của một tài khoản mạng xã hội telegram (S không nhớ tài khoản) và hẹn giao hàng tại số A, ngõ A L. Sau khi mua được ma túy và 10 pod R, S đã sử dụng hết 01 pod. Khoảng 13h30 ngày 03/04/2024, S mang 05 pod Roma Chill và 01 gói nilon chứa ma túy C đến địa điểm đã hẹn để giao cho đối tượng hỏi mua ma túy. Khi đi đến trước cửa số nhà A TT G, phường G, B, Hà Nội thì S bị tổ công tác Công an phường G quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Ngoài ra, khi khám xét nhà của Đỗ Trường S, tổ công tác còn thu giữ 04 pod Roma chill.

*Tang vật thu giữ của Đỗ Trường S:

  • 01 túi nilon chứa thảo mộc khô.
  • 09 hộp giấy bên trong mỗi hộp có 01 túi nilon chứa 01 ống màu hồng có chữ Roma Chill.
  • 01 xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29B2 – 20197.
  • 01 điện thoại IP XS màu đen, sim số 0983396265.
  • 75.000 đồng.

Bản kết luận giám định số 2598/KL – KTHS ngày 12/04/2024 của phòng K1, Công an thành phố H kết luận:

  • Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon là ma túy C, khối lượng: 0,706 gam.
  • 05 ống màu hồng có chữ Roma Chill (mỗi ống để bên trong 01 túi nilon, bên ngoài là hộp giấy) đều không tìm thấy chất ma túy.

Bản kết luận giám định số 2657/KL – KTHS ngày 13/04/2024 của phòng K1, Công an thành phố H kết luận:

  • 04 ống màu hồng có chữ Roma Chill (mỗi ống để bên trong 01 túi nilon, bên ngoài là hộp giấy) đều không tìm thấy chất ma túy.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 29B2 – 20197 thu giữ của Đỗ Trường S, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký xe là Đỗ Trường S. S khai nhận chiếc xe trên do bà Phạm Thị T1 (Sinh năm: 1959; nơi thường trú: Số A ngõ A L, N, B, Hà Nội) là mẹ của S nhờ mua và đứng tên hộ. Bà T1 cung cấp cho Cơ quan điều tra Bản cam kết với nội dung như trên. Việc S sử dụng chiếc xe máy trên để đi mua bán ma túy bà T1 không biết. Chiếc xe máy trên và toàn bộ số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, Hà Nội để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma túy và mua ma túy của Đỗ Trường S, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Với bội dung trên bản cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 08/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Đỗ Trường Sơn về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Trường S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù.

Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để:

  • Tịch thu tiêu hủy một bao niêm phong bên trong chứa 0,706 gam ma tuý loại cần sa đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
  • Tịch thu, tiêu hủy một hộp niêm phong bên trong chứa 05 hộp giấy bên trong mỗi hộp có chứa 01 túi ni lông chứa 01 lọ màu hồng trên thân ghi chữ “Roma Chill” đều không tìm thấy chất ma tuý, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
  • Tịch thu, tiêu hủy một hộp niêm phong bên trong chứa 04 hộp giấy bên trong mỗi hộp có chứa 01 túi ni lông chứa 01 lọ màu hồng trên thân ghi chữ “Roma Chill” đều không tìm thấy chất ma tuý, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động Iphone XS màu đen,bên trong có sim điện thoại, IMEL: 356173095194879, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
  • Trả lại cho bà Phạm Thị T1 một xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 29B2 – 20197.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 75.000 đồng.

Không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 13h30 ngày 03/04/2024, tại trước cửa số nhà A G, B, Hà Nội, bị cáo đang mang 0,706 gam C đi giao cho người mua ma tuý thì bị Tổ công tác của Công an phường G, quận B, thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Trường S có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Đỗ Trường S khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu: ngày 27/09/2017, tại Bản án số 177/2017/HS-ST, bị cáco bị Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 22/03/2019. tại Bản án số 57/2019/HS-ST, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không lấy đây làm bài học rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội vì vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ các quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Đối với vật chứng:

  • Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 bao niêm phong, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma này.
  • Đối với 09 hộp giấy bên trong mỗi hộp có 01 túi nilon chứa 01 ống màu hồng có chữ Roma Chill không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Đối với chiếc xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29B2 – 20197, Quá trình điều tra cũng như lời khai của bị cáo tại phiên toà xác định được chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị T1. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe máy này để đi mua ma tuý bà T1 không được biết. Vì vậy căn cứ khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại chiếc xe máy này cho bà T1.
  • Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, bên trong gắn thẻ sim, là điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại này.
  • Số tiền 75.000 đồng thu giữ của bị cáo là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại số tiền này cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trường S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Trường S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 03/04/2024.

- Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy một bao niêm phong bên trong chứa 0,706 gam ma tuý loại cần sa đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
  • Tịch thu, tiêu hủy một hộp niêm phong bên trong chứa 05 hộp giấy bên trong mỗi hộp có chứa 01 túi ni lông chứa 01 lọ màu hồng trên thân ghi chữ “Roma Chill” đều không tìm thấy chất ma tuý, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
  • Tịch thu, tiêu hủy một hộp niêm phong bên trong chứa 04 hộp giấy bên trong mỗi hộp có chứa 01 túi ni lông chứa 01 lọ màu hồng trên thân ghi chữ “Roma Chill” đều không tìm thấy chất ma tuý, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động Iphone XS màu đen,bên trong có sim điện thoại, IMEL: 356173095194879, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
  • Trả lại cho bà Phạm Thị T1 một xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 29B2 – 20197.
  • Trả lại cho bị cáo số tiền 75.000 đồng.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 180 ngày 02/8/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 180/THA ngày 02/08/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số:10563427 ngày 24/07/2024 Ngân hàng TMCP C.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Nam Hải

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Nam Hải

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày tháng năm 2024;

Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam H.

Các Hội thẩm nhân dân. Ông;

Ông.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số /2024/TLST-HS ngày tháng năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Trường S, sinh năm 1995 tại ...........; nơi thường trú: Số A ngõ A L, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU :

  • Về điều luật: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Kết quả biểu quyết 3/3

  • Về tội danh: Bị cáo Đỗ Trường S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Kết quả biểu quyết 3/3

  • Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Trường S.........(.......) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 03/04/2024.
  • Kết quả biểu quyết 3/3

  • Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy một bao niêm phong bên trong chứa 0,706 gam ma tuý loại cần sa đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
    • Tịch thu, tiêu hủy một hộp niêm phong bên trong chứa 05 hộp giấy bên trong mỗi hộp có chứa 01 túi ni lông chứa 01 lọ màu hồng trên thân ghi chữ “Roma Chill” đều không tìm thấy chất ma tuý, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
    • Tịch thu, tiêu hủy một hộp niêm phong bên trong chứa 04 hộp giấy bên trong mỗi hộp có chứa 01 túi ni lông chứa 01 lọ màu hồng trên thân ghi chữ “Roma Chill” đều không tìm thấy chất ma tuý, đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Đỗ Trường S.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động Iphone XS màu đen,bên trong có sim điện thoại, IMEL: 356173095194879, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy.
    • Trả lại cho bà Phạm Thị T1 một xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 29B2 – 20197,
    • Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 180 ngày 02/8/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

    • Trả lại cho bị cáo số tiền 75.000 đồng.
    • Số tiền nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo Giấy nộp tiền ngày 24/7/2024.

    Kết quả biểu quyết 3/3

  • Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  • Kết quả biểu quyết 3/3.

  • Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Kết quả biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2024

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên .

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 133/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 133/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phếp chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger