|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 133/2024/HS-PT Ngày 14 - 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thuỷ;
Bà Trương Thị Anh.
-Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 176/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Hữu A và Dương Công K do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu A và bị hại Lê Duy H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Hữu A - Sinh năm 1993, tên gọi khác: Ú; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: TDP L, phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Hữu P; Con bà: Ngô Thị H1; Vợ: Lê Thị T, có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân:- Ngày 20/10/2015, bị Công an huyện T (nay là Công an thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác.
- Ngày 16/02/2021, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 18/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Dương Công K – sinh năm 1987; Tại Thanh Hoá; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12;Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Dương Công V và bà Hoàng Thị H2 ; CóVợ: Lê Thị V1, Có 02 con; lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021;Tiền án: không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 18/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
1
Bị hại: Anh Lê Duy H ;sinh năm 1987 ( có mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã T, thị xã N, Thanh Hóa
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại: Luật sư Lê Doãn T1 ( Có mặt)
Nơi công tác: Đoàn luật sư Thành phố H
Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Trung T2 - sinh năm 1977(Vắng mặt)
Địa chỉ: TDP B, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
2. Anh Đỗ Viết S – sinh năm 1986( Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, TX. N, Thanh Hóa.
3. Chị Đậu Thị M – sinh năm 2003 – (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, Thanh Hóa.
4. Chị Nguyễn Thị P1 – sinh năm 1980 ( có mặt)
Địa chỉ: TDP B, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
5. Chị Mai Thị L – sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP Bắc Hải, phường Hải Thượng, TX. Nghi Sơn, Thanh Hoá
6. Chị Cao Thị G – sinh năm 1980( vắng mặt)
Địa chỉ: TDP C, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu năm 2021, anh Lê Duy H, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa có nợ Công ty nhà ông Dương Công V ( Bố đẻ của Dương Công K) số tiền 145.000.000 đồng. Dương Công K đã nhiều lần hỏi nợ nhưng anh Lê Duy H không trả mà còn có lời lẽ thách thức. Đến khoảng 08 giờ 50 phút ngày 15/9/2023, Nguyễn Hữu A (là anh rể của Dương Công K) và Dương Công K đến uống cà phê tại quán C ở tổ dân phố B, phường H, thị xã N thì gặp anh Lê Duy H. Tại đây, hai bên xảy ra cãi vã, thách thức nhau, Nguyễn Hữu A và Dương Công K dùng tay đánh H, tiếp đó Nguyễn Hữu A cầm 01 chiếc cốc thủy tinh cao khoảng 20cm, đường kính miệng cốc khoảng 07cm đánh 02 phát vào đầu và trán của anh Lê Duy H gây thương tích. Sau đó được mọi người can ngăn nên Nguyễn Hữu A và Dương Công K bỏ ra về, còn anh Lê Duy H bị thương được đưa đến Bệnh viện để xử lý và điều trị vết thương.
Sau khi vụ việc xảy ra, Công an phường H đã tiếp nhận, tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu, rồi chuyển toàn bộ tài liệu, hồ sơ cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N để điều tra, xử lý theo thẩm quyền .
Theo kết quả khám thương ban đầu tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 16 giờ 00 phút ngày 17/9/2023 và Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T, thì anh Lê Duy H bị 01 vết thương tại vùng trán phải, dài 03cm và 01 vết thương tại vùng đỉnh lệch phải 01 cm .
2
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1698/KLTTCT-PYTH ngày 07/11/2023, Trung tâm P2 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Duy H tại thời điểm giám định là 12% .
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số1699/KLTTCT-PYTH ngày 08/11/2023, Trung tâm P2 kết luận: Các vết thương tại vùng trán phải và vết thương tại vùng đỉnh lệnh phải do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 134; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS cho cả hai bị cáo. (Bị cáo K được áp dụng thêm 1 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS; Bị cáo Anh bị áp dụng Điều 38 BLHS). Điều 30 BLTTHS.
- Tuyên bố: Nguyễn Hữu A và Dương Công K phạm tội “Cố ý gây thương tích"
- Xử phạt: Nguyễn Hữu A 24 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam hoặc tự nguyện thi hành án.
Dương Công K 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Công K về cho UBND Phường H, thị xã N, Thanh Hóa quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Về phần dân sự: Giành quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại cho anh Lê Duy H khi có đủ yêu cầu khởi kiện theo quy định.
Anh Lê Duy H được nhận số tiền 20 triệu theo biên lai thu tiền số 0003644 và số 0003643 đều ghi ngày 03/5/2024 của chi cục THADS thị xã N, Thanh Hóa.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Hữu A có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 bị hại anh Lê Duy H có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm làm rõ hành vi của hai bị cáo Dương Công K và Nguyễn Hữu A dùng chậu hoa và gạt tàn thuốc lá đập vào đầu bị hại gây thương tích 12% sức khoẻ.
Mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử đối với 02 bị cáo chưa tương xứng với hành vi có tính chất côn đồ của các bị cáo.
Chưa làm rõ được vai trò chủ mưu cầm đầu của bị cáo Dương Công K.
3
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, bị cáo Nguyễn Hữu A và bị hại Lê Duy H giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị hại bổ sung thêm yêu cầu kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử không cho bị cáo Dương Công K hưởng án treo mà buộc bị cáo K phải chịu hình phạt tù.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Bị cáo Nguyễn Hữu A và bị hại anh Lê Duy H kháng cáo hợp lệ trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại Toà án cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đều có đơn xin tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại nên mỗi bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục THA DS thị xã N số tiền 10 triệu đồng ngoài ra Dương Công K đã tham gia ủng hộ công trình cải tạo khuôn viên Đài tưởng niệm các Anh H3 liệt sỹ của UBND phường H với số tiền ủng hộ 07 triệu đồng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS Toà án cấp sơ thẩm xử phạt Nguyễn Hữu A 24 tháng tù và Dương Công K 24 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm các bị cáo tiếp tục tự nguyện nộp mỗi bị cáo số tiền 15 triệu đồng để bồi thường cho bị hại, bị cáo Nguyễn Hữu A có ông nội là ông Nguyễn Hữu G1 có công trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bản thân bị cáo và gia đình tích cực ủng hộ các phong trào do chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú phát động cụ thể bị cáo đã ủng hộ số tiền 15 triệu đồng để làm đường tự quản và cổng tượng đài liệt sĩ; hỗ trợ quỹ khuyến học, các học sinh nghèo, học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, số tiền 1.000.000 đồng, hỗ trợ quỹ nạn nhân chất độc Dioxin, chất độc da cam số tiền 1.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu A về giảm hình phạt, không chấp nhận kháng cáo của bị hại anh Lê Duy H; giữ nguyên mức hình phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Dương Công K; sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt giảm cho bị cáo Nguyễn Hữu A với mức từ 04 tháng đến 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo và bị hại đã thống nhất thỏa thuận các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện giữa các bị cáo và bị hại nên công nhận sự thỏa thuận về bồi thường dân sự giữa các bị cáo và bị hại. Hiện các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Lê Hữu A1 được chấp nhận một phần nên bị cáo Nguyễn Hữu A không phải chịu án phí HSPT. Bị hại anh Lê Duy H được chấp nhận một phần về dân sự nên không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu A, bị hại anh Lê Duy H hợp lệ và trong thời hạn theo quy định tại các Điều 331,332,333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2.1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Do anh Lê Duy H trong quá trình làm ăn có nợ của công ty mà ông Dương Công V (Bố đẻ của bị cáo Dương Công K) là giám đốc, còn bị cáo K là thành viên công ty, số tiền 145.000.000 đồng. Bị cáo Dương Công K đã nhiều lần hỏi nợ nhưng anh Lê Duy H không trả. Vào khoảng 08 giờ 50 phút ngày 15/9/2023, Nguyễn Hữu A và Dương Công K đến uống cà phê tại quán C ở tổ dân phố B, phường H, thị xã N thì gặp anh Lê Duy H cũng đang ngồi uống cà phê cùng bạn. Tại đây, hai bên xảy ra cãi vã, thách thức nhau, Nguyễn Hữu A và Dương Công K dùng tay đánh anh Lê Duy H, tiếp đó Nguyễn Hữu A cầm 01 chiếc cốc thủy tinh cao khoảng 20cm, đường kính miệng cốc khoảng 07cm đánh 02 phát vào đầu và trán của anh Lê Duy H gây thương tích. Sau đó được mọi người can ngăn nên Nguyễn Hữu A và Dương Công K bỏ ra về, còn anh Lê Duy H bị thương được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T để xử lý và điều trị vết thương. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu A Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống giữa các bị cáo và bị hại nên khi gặp bị hại các bị cáo đã xảy ra xô sát với bị hại, lao vào đánh bị hại. Bị cáo Nguyễn Hữu A khi thấy em mình là Dương Công K đánh anh H( Bị hại) thì cũng lao vào cầm cốc đập vào đầu bị hại dẫn đến gây thương tích cho bị hại mất 12% sức khoẻ. Trước khi phạm tội các bị cáo không có sự chuẩn bị, bàn bạc từ trước, mục đích của các bị cáo đến quán cà phê để uống cà phê. Khi nhìn thấy anh H các bị cáo đã đến cãi nhau với bị hại và đánh bị hại nên hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn. Bị cáo Dương Công K là người đánh anh H trước, tuy K đánh anh H bằng tay không nhưng khi Nguyễn Hữu A cầm cốc uống nước bằng thuỷ tinh đập vào đầu vào trán anh H thì Dương Công K không can ngăn mà tiếp tục lao vào đánh anh H nhưng được mọi người can ngăn nên các bị cáo K và A dừng lại, do vậy bị cáo K đồng phạm với bị cáo A và các bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo khoản 2 Điều 134 BLHS. Tại Toà án cấp sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đều có đơn xin tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại nên mỗi
5
bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục THADS thị xã N số tiền 10 triệu đồng. Ngoài ra, Dương Công K đã tham gia ủng hộ công trình cải tạo khuôn viên Đài tưởng niệm các Anh H3 liệt sỹ của UBND phường H với số tiền ủng hộ 07 triệu đồng, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Nguyễn Hữu A 24 tháng tù và Dương Công K 24 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp.
Về kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hữu A thấy rằng: Bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính hai lần đều về cùng một hành vi xâm hại sức khỏe cho người khác nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội cố ý gây thương tích. Thương tích của anh H chủ yếu do bị cáo gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của anh Lê Duy H, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, với nhân thân hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất vụ án là nghiêm trọng, do vậy việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nên kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hữu A: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu A xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối hận với hành vi của mình gây ra cho bị hại nên ngoài số tiền 10 triệu đồng bị cáo tự nguyện nộp bồi thường cho bị hại, bị cáo tiếp tục tự nguyện nộp thêm số tiền 15 triệu đồng để bồi thường cho bị hại; bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Hữu G1 có công trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; bản thân bị cáo và gia đình tích cực ủng hộ các phong trào do chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú phát động cụ thể bị cáo đã ủng hộ số tiền 15 triệu đồng để làm đường tự quản và cổng tượng đài liệt sĩu; hỗ trợ quỹ khuyến học, các học sinh nghèo, học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn số tiền 1.000.000 đồng, hỗ trợ quỹ nạn nhân chất độc Dioxin, chất độc da cam số tiền 1.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới theo điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, tại giai đoạn phúc thẩm có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho phù hợp với nguyên tắc nhân đạo của pháp luật, khoan hồng đối với người phạm tội khi họ biết ăn năn hối cải. Nên thống nhất với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hữu A và áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm một phần hình phạt từ 04 tháng đến 06 tháng để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội là phù hợp.
[ 3 ] Đối với kháng cáo của bị hại anh Lê Duy H thấy rằng:
Về kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm làm rõ hành vi của hai bị cáo Dương Công K và Nguyễn Hữu A dùng chậu hoa và gạt tàn thuốc lá đập vào đầu bị hại gây thương tích 12% sức khoẻ.
6
Căn cứ vào các chứng cứ như lời khai của các bị cáo; lời khai của chính bị hại ( BL 140-> 145): K đánh tôi bằng gì tôi không biết, Anh đánh tôi bằng cốc thuỷ tinh, các lời khai trước đây tôi khai K đánh tôi bằng chậu hoa là do tôi bị đánh vào đầu nên nhớ không chính xác. Sau khi điều trị tôi nhớ lại nên khai lại với cơ quan điều tra; lời khai của người làm chứng gồm Lời khai của chị Mai Thị L chủ quán café H4 khẳng định có sự việc đánh nhau xảy ra tại quán của chị. Tuy nhiên chị không nhìn thấy các bị cáo sử dụng đồ vật gì để đánh anh H. Sau khi được mọi người can ngăn khi dọn dẹp quán thì quán của chị không bị đổ vỡ hay hư hỏng gì (BL 203, 204).
Lời khai của chị Đậu Thị M – Nhân viên dọn dẹp trong quán café khai, chị có thấy sự việc đánh nhau diễn ra trong quán nhưng do khoảng cách xa nên chị không nhìn thấy họ dùng đồ vật gì để đánh nhau. Trong quá trình xảy ra sự việc không có ai đập phá hay làm hư hỏng tài sản gì của quán (BL 191).
Lời khai của chị Cao Thị G – khách uống caffe ngồi cùng bàn với chị P1 khai (BL 98): Khi chị đang ngồi uống nước thì có thấy sự việc đánh nhau diễn ra nên chị ra can ngăn, khi chị đẩy bị cáo A ra thì thấy trên tay bị cáo có cầm một cốc thuỷ tinh loại cốc quán dùng để pha café cho khách uống.
Lời khai của anh Lê Ngọc T3, là người ngồi cùng bàn với bị hại cũng là chủ quán café H4 khai (BL 93,94 và 95): Anh có chứng kiến sự việc đánh nhau nhưng diễn biến quá nhanh nên anh không xác định được họ dùng vật gì để đánh chỉ thấy sau có một người phụ nữ tóc ngắn ngồi bàn bên cạnh lại can và có gỡ trong tay một người đàn ông ra một cái cốc thuỷ tinh loại cốc dùng pha café cho khách. Sau đó anh là người dọn dẹp quán, trong quá trình quét dọn anh không thấy đồ vật gì bị đổ vỡ tại hiện trường.
Tại bản tường trình và lời khai của chị Từ Thị N – Vợ của bị hại trình báo nội dung như sau (BL 88, 89 và 90): Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/9/2023 chồng chị đang ngồi uống café tại quán C thì bất ngờ bị một nam thanh niên xông đến dùng cốc uống nước đánh vào đầu chồng chị khiến chồng chị bị thương và phải đi điều trị. Khi xảy ra sự việc chị không chứng kiến nhưng nghe chồng chị nói lại.
Căn cứ vào trích camera tại quán cà phê cơ quan Công an thu niêm phong giữ lưu trong hồ sơ không thể hiện bị cáo K và bị cáo A dùng chậu hoa gây thương tích cho anh Lê Duy H.
Do đó kháng cáo của bị hại cho rằng hành vi của hai bị cáo Dương Công K và Nguyễn Hữu A dùng chậu hoa và gạt tàn thuốc lá đập vào đầu bị hại gây thương tích 12% sức khoẻ là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Về Mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử đối với 02 bị cáo chưa tương xứng với hành vi có tính chất côn đò của các bị cáo. Thấy rằng:
Các bị cáo phạm tội mang tính chất bột phát, không có sự chuẩn bị hay phân công vai trò từ trước. Mục đích các bị cáo đến quán cà phê H4 để uống cà phê, tuy nhiên khi vào đến quán phát hiện ra anh Lê Duy H đang ngồi uống cà phê với bạn phía trong, do có mâu thuẫn cá nhân từ trước trong việc bị hại có nợ nần tiền của gia đình bị cáo K, K và A đòi nhiều lần anh H không trả nên khi nhìn
7
thấy anh H cả K và A đều có hành vi vừa đi vào vừa chửi bới, khi đến bàn anh H ngồi Dương Công K đã có hành vi dùng tay đánh, đấm vào người anh H, còn Nguyễn Hữu A có hành vi dùng cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh H. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, mặc dù không có sự bàn bạc từ trước nhưng bị cáo K và bị cáo A đã có sự tiếp nhận ý chí với nhau để gây thương tích cho anh H
Tuy Dương Công K là người đánh anh H trước nhưng Nguyễn Hữu A lại có hành vi dùng cốc thủy tinh để gây ra thương tích cho anh H nên Toà án cấp sơ thẩm đánh giá hành vi của các bị cáo ngang nhau nên chịu mức hình phạt ngang nhau là phù hợp.
Xét về nhân thân của các bị cáo HĐXX sơ thẩm xét thấy, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thật thà, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đều có đơn xin tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại nên mỗi bị cáo đã tự nguyện nộp vào Chi cục THA DS thị xã N số tiền 10 triệu đồng ngoài ra Dương Công K đã tham gia ủng hộ công trình cải tạo khuôn viên Đài tưởng niệm các Anh H3 liệt sỹ của UBND phường H với số tiền ủng hộ 07 triệu đồng vì vậy các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để lượng giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
Tuy nhiên bị cáo Nguyễn Hữu A đã từng bị xử phạt hành chính hai lần đều về cùng một hành vi xâm hại sức khỏe cho người khác nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội cố ý gây thương tích nên nghĩ cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Đối với Dương Công K có nơi cư trú ổn định, bị cáo có nhân thân tốt, hành vi có mức độ, nên cho bị cáo cải tạo tại địa phương nơi bị cáo cư trú dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Do đó Toà án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Hữu A 24 tháng tù và Dương Công K 24 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp tương xứng với hành vi của các bị cáo. Do vậy kháng cáo của bị hại là không có căn cứ.
Về nội dung chưa làm rõ được vai trò chủ mưu cầm đầu của bị cáo Dương Công K. Như đã nhận xét ở trên các bị cáo phạm tội mang tính chất bột phát, không có sự chuẩn bị hay phân công vai trò từ trước. Mục đích các bị cáo đến quán cà phê H4 để uống cà phê, tuy nhiên khi vào đến quán phát hiện ra anh Lê Duy H đang ngồi uống cà phê với bạn phía trong, do có mâu thuẫn cá nhân từ trước trong việc bị hại có nợ nần tiền của gia đình bị cáo K, K và A đòi nhiều lần anh H không trả nên khi nhìn thấy anh H cả K và A đều có hành vi vừa đi vào vừa chửi bới, khi đến bàn anh H ngồi Dương Công K đã có hành vi dùng tay đánh, đấm vào người anh H, còn Nguyễn Hữu A có hành vi dùng cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh H. Hành vi phạm tội của các bị cáo
8
mang tính chất đồng phạm giản đơn, mặc dù không có sự bàn bạc từ trước nhưng K và A đã có sự tiếp nhận ý chí với nhau để gây thương tích cho anh H, vì vậy trong vụ án này thì không có căn cứ khẳng định bị cáo K là chủ mưu cầm đầu, vì vậy yêu cầu này của bị hại không có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị hại anh Lê Duy H yêu cầu các bị cáo bồi thường sức khỏe cho anh theo quy định pháp luật nhưng anh H không cung cấp được tài liệu chứng cứ về chi phí viện phí, thuốc men trong quá trình điều trị nên Toà án cấp sơ thẩm đã tách phần bồi thường dân sự để giành quyền cho anh H khởi kiện vụ án dân sự khi có yêu cầu. Tại cấp phúc thẩm bị hại vẫn đề nghị xem xét bồi thường dân sự. Tại phiên toà phúc thầm các bị cáo và bị hại thống nhất thoả thuận số tiền các bị cáo bồi thường cho bị hại là 50.000.000 đồng, xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo và bị hại nên công nhận. Hiện nay các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 50 triệu đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi sơn Theo các biên lai thu tiền số 3643 và 3644 ngày 03/5/2024 và các biên lai thu tiền số 3740 và 3741 ngày 05/8/2024 để bồi thường cho bị hại.
Bị hại được nhận số tiền các bị cáo bồi thường 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
[3].Về án phí: Các bị cáo đã nộp đủ án phí HSST tại Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo các biên lai số3648 và 3649 ngày 20/5/2024 .
Án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu A và bị hại anh Lê Duy H được chấp nhận một phần nên bị cáo Lê Hữu A1 và bị hại Lê Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại anh Lê Duy H
Chấp nhận một kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu A về giảm hình phạt.
Sửa bản án sơ thẩm số 63/2024/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân thị xã N, tỉnh Thanh Hóa về giảm hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu A và về phần bồi thường dân sự.
9
Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 134; Điều 17, Điều 58; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS cho cả hai bị cáo. Điều 65 BLHS (đối với bị cáo K); Điều 38, Điều 54 BLHS (đối với bị cáo A).
Tuyên bố: Nguyễn Hữu A và Dương Công K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Nguyễn Hữu A 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam hoặc tự nguyện thi hành án.
Dương Công K 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Công K về cho UBND Phường H, thị xã N, Thanh Hóa quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thoả thuận giữa các bị cáo và bị hại: Các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền này các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn.Theo các biên lai thu tiền số 3643 và 3644 ngày 03/5/2024 và các biên lai thu tiền số 3740 và 3741 ngày 05/8/2024 .
Bị hại được nhận số tiền 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
3. Về án phí: Bị cáo Lê Hữu A1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo đã nộp đủ tại Chi cục Thi Hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo các biên lai số 3648 và 3649 ngày 20/5/2024 .
Bị hại anh Lê Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Nguyệt |
10
11
12
13
Bản án số 133/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 133/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu A + ĐP “Cố ý gây thương tích”
