|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1325/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/5/2025 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Tâm
- Ông Trần đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số : 479/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4098/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đoàn Bảo K, sinh năm: 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Số A N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Hồ Tú U, sinh năm: 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Số A đường A, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Đoàn Bảo K trình bày: Ông và bà Nguyễn Hồ Tú U tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh những bất đồng trong cuộc sống, tình cảm mất dần và không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã không sống chung với nhau hơn một năm nhưng vẫn không thể khắc phục những bất hòa. Vợ chồng có 02 con chung tên: Đoàn Bảo K1, sinh ngày 26/6/2012 và Đoàn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 10/6/2014. Ông yêu cầu ly hôn và giao các con chung cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi con mỗi trẻ 5.000.000 đồng/tháng. Ông không yêu cầu giải quyết tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung.
Bà Nguyễn Hồ Tú U trình bày: bà xác nhận về quá trình chung sống và có con chung như ông K đã trình bày. Vợ chồng thực tế có những bất đồng vì nhiều áp lực trong cuộc sống nhưng không phải mâu thuẫn gì lớn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhà với cha mẹ bà U, các con được sinh ra, được chăm sóc ổn định. Vì ông K bất đồng nên tự ý về sống cùng cha mẹ ruột, để mẹ con bà vẫn tiếp tục ở lại nhà ngoại. Hơn một năm vợ chồng không sống chung với nhau nhưng bản thân bà vẫn còn tình cảm với chồng. Bà không đồng ý ly hôn vì muốn các con còn đủ cha mẹ để nuôi dạy nên người, muốn cho ông K thêm thời gian suy nghĩ lại, để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ với nhau. Các vấn đề con chung, tài sản chung thì bà thống nhất với ý kiến của ông K.
Tại phiên tòa:
Ông K vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bà U vì những tổn thương không nói ra được, tình cảm không còn. Xin được công nhận sự thỏa thuận của ông và bà U về vấn đề con chung và tài sản chung. Xác định vợ chồng không có nợ chung.
Bà U thống nhất giải quyết con chung và tài sản chung như ông K đã trình bày, xác nhận vợ chồng không có nợ chung. Tuy nhiên, bà vẫn còn tình cảm với chồng, muốn cho ông K thời gian thu xếp những chuyện bên ngoài để vợ chồng đoàn tự nên bà không muốn ly hôn.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ lời trình bày của đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình, xác định ông K và bà U là vợ chồng nhưng thực tế đã không còn chung sống với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Cho ông Đoàn Bảo K được ly hôn với bà Nguyễn Hồ Tú U; Ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên về con chung: Các con chung hiện đang do bà U trực tiếp chăm sóc và có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị giao các con chung cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng, ông K cấp dưỡng nuôi con mội tháng 10.000.000 đồng/2 con. Tài sản chung: hai bên xác nhận không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; Nợ chung: Không có; Về án phí: ông K phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: ông Đoàn Bảo K nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Hồ Tú U, bà U có nơi cư trú tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự có mặt và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
Ông Đoàn Bảo K và bà Nguyễn Hồ Tú U tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 26 tháng 6 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112 nên hôn nhân giữa ông K và bà U là hợp pháp.
Theo lời khai của các đương sự thì vợ chồng có những mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về nhiều mặt trong quá trình sống chung, không tìm được tiếng nói chung, không chia sẻ với nhau nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Vợ chồng tự ý không sống chung với nhau thời gian dài nhưng không có khả năng hàn gắn, bản thân ông K không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với bà U để rõ ràng về mặt pháp lý.
Bà U xác nhận vợ chồng có những mâu thuẫn nhưng không đến mức trầm trọng, vợ chồng không thể nói chuyện với nhau do ông K không nói ra, bất đồng quan điểm nên ông K tự ý về nhà cha mẹ mình sinh sống. Thời gian dài vợ chồng không sống chung với nhau nhưng cũng không có cách gì để vợ chồng có cơ hội đoàn tụ thể hiện mục đích của hôn nhân không thực hiện được. Do đó, yêu cầu của ông K là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Theo tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các bên thì vợ chồng có 02 con chung tên: Đoàn Bảo K1, sinh ngày 26/6/2012 và Đoàn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 10/6/2014. Ghi nhận hai bên thỏa thuận giao các con chung cho bà U trực tiếp nuôi dưỡng, ông K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng (5.000.000 đồng/1 trẻ).
Về tài sản chung: Các bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: các bên tự khai không có nên Tòa án không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: ông Đoàn Bảo K phải chịu án phí về cấp dưỡng và về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: ông Đoàn Bảo K được ly hôn với bà Nguyễn Hồ Tú U.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 112 ngày 26 tháng 6 năm 2008 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Đoàn Bảo K và bà Nguyễn Hồ Tú U không còn giá trị pháp lý.
- - Về con chung: Giao các con chung Đoàn Bảo K1, sinh ngày 26/6/2012 và Đoàn Ngọc Quỳnh T, sinh ngày 10/6/2014 cho bà Nguyễn Hồ Tú U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đoàn Bảo K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng (5.000.000 đồng/1 trẻ). Việc cấp dưỡng được thự hiện từ khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các trẻ lần lượt đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự khai không có.
2. Về án phí: Ông Đoàn Bảo K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí vế cấp dưỡng nuôi con. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: 0083557 ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông K còn phải nộp 300.000 đồng tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
3. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 1325/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1325/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
