|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1320/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05-12-2023 V/v “Tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hữu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
- Ông Nguyễn Thành Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 449/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1106/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1148/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Tuyết N. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phan Đình L. (vắng mặt)
Địa chỉ: phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 4 năm 2023, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được ngày 10/10/2023 cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết N trình bày:
Bà N và ông Phan Đình L tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 27/9/1999 và có 02 (hai) con chung: Phan Thủy Tiên sinh ngày 27/5/2001 (đã trưởng thành) và Phan Quỳnh N1 sinh ngày 14/01/2011. Trong thời gian chung sống cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nhau do ông L có tính gia trưởng, chửi mắng, xúc phạm thậm chí còn đánh bà N dẫn đến hai vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, dù nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Sự rạn nứt tình cảm giữa hai vợ chồng dần trở nên trầm trọng dẫn đến hạnh phúc không còn. Cho nên, bà N không thể sống chung với ông L được nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung: Phan Thủy Tiên sinh ngày 27/5/2001 (đã trưởng thành) và Phan Quỳnh N1 sinh ngày 14/01/2011. Bà N có nguyện vọng nuôi trẻ Phan Quỳnh N1 và không cần ông L cấp dưỡng nuôi con vì bà có đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Phía bị đơn ông Phan Đình L vắng mặt không rõ lý do dù Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ.
Bà N cũng không bổ sung gì thêm.
Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và mở phiên tòa xét xử hôm nay.
Nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết N làm đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà án căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bà N. Bị đơn ông Phan Đình L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 14/11/2023 và ngày 05/12/2023 nhưng đều vắng mặt không rõ lý do nên Toà án căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông L. Thư ký Huỳnh Thị T nghỉ hộ sản nên có Thư ký dự khuyết là bà Nguyễn Thị Mỹ H tham gia xét xử phiên tòa hôm nay.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tại phiên tòa hôm nay: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuy có vi phạm thời hạn giải quyết vụ án nhưng vẫn đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; nguyên đơn chấp hành tốt các quy định pháp luật, còn bị đơn thì không chấp hành tốt quy định pháp luật, luôn vắng mặt, không muốn hàn gắn tình cảm. Có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Tuyết N, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao trẻ Phan Quỳnh N1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thảo luận của hội đồng xét xử, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do bị đơn đang cư trú tại Quận A nên căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Tuyết N trên cơ sở căn cứ vào lời tự khai của đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Trần Thị Tuyết N và ông Phan Đình L tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/1999 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk. Cho nên, Hội đồng xét xử xác định hôn nhân giữa bà N và ông L là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung: Phan Thủy Tiên sinh ngày 27/5/2001 (đã trưởng thành) và Phan Quỳnh N1 sinh ngày 14/01/2011. Bà N có nguyện vọng nuôi trẻ Phan Quỳnh N1 và không cần ông L cấp dưỡng nuôi con vì bà có đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa công bố nguyên đơn có làm đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa tiếp tục công bố tóm tắt nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xác minh tình trạng hôn nhân gia đình của bà N và ông L do UBND phường T, Quận A xác nhận ngày 23/8/2023: “...địa phương không rõ nguyên nhân và mâu thuẫn giữa họ...”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đời sống hôn nhân vợ chồng là do sự tự nguyện của hai bên, cùng nhau vun đắp hạnh phúc, tình cảm và gắn bó với nhau lâu dài thì mục đích hôn nhân mới có thê đạt được. Trong vụ án này, bà N thừa nhận phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, lối sống với ông L, tính tình không hợp nhau, ông L còn thể hiện tính gia trưởng, chửi mắng xúc phạm, thậm chí còn đánh bà N nên cãi vã nhau thường xuyên, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn dù các bên đã cố gắng hàn gắn. Đến nay đôi bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể chung sống và hạnh phúc không còn là có thật.
Xét thấy yêu cầu và phạm vi khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Về con chung: Phan Thủy Tiên sinh ngày 27/5/2001 (đã trưởng thành) và Phan Quỳnh N1 sinh ngày 14/01/2011. Bà N có nguyện vọng nuôi trẻ Phan Quỳnh N1 cũng phù hợp nguyện vọng của trẻ và bà N không cần ông L cấp dưỡng nuôi con vì bà có đủ điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà N phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 147, 238, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào các Điều 9, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luaät Hoân nhaân vaø Gia ñình naêm 2014;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Bà Trần Thị Tuyết N được ly hôn với ông Phan Đình L.
- Về con chung: Phan Thủy Tiên sinh ngày 27/5/2001 (đã trưởng thành) và Phan Quỳnh N1 sinh ngày 14/01/2011. Giao trẻ Phan Quỳnh N1 cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; ông L không phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con vì bà N không có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà Trần Thị Tuyết N phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) mà bà N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2022/0005865 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12. Bà N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 27/9/1999 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Lắk cấp cho bà Trần Thị Tuyết N và ông Phan Đình L không còn giá trị.
Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con khi cần thiết có thể xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Hữu Hạnh |
Bản án số 1320/2023/HNGĐ-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 1320/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
