|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HS-ST Ngày: 30 - 07 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Mai Khanh
ÔngTrần Ngọc Đăng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dântỉnh Nghệ Antham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Việt Phương và Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ Anxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 24tháng 06năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 07năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: V1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28/8/1971 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Na Cày, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vi Văn O, đã chết; Con bà: Vi Thị O1, đã chết; Anh chị em ruột: có 08 người, bị cáo là con thứ tám; vợ Vi Thị H sinh năm 1970, đã ly hôn; con có 03 người lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 26/01/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm tài sản của công dân”, 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt 05 năm tù. Ngày 28/5/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 3 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 28/7/2006 bị Tòa án nhân tỉnh N xử phạt 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 11/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 5 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nhân thân: Ngày 28/3/1995 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Tổng hợp hình phạt chung 9 tháng tù (chấp hành xong hình phạt ngày 17/8/2023) . Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Công H1,sinh ngày: 10 tháng 01 năm 1980 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ôngNguyễn Công Thanhđã chết; con bà Hoàng Thị L, sinh năm 1939;Anh chị em ruột: có 06 người, bị cáo là con thứ sáu;Vợ: Phan Thị T, sinh năm 1980 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2003; Tiền sự: không; Tiền án:Ngày 08/8/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21/01/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã ThuậnAn, tỉnh Bình Dương xử phạt 2 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”, ngày 16/4/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 3 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho 02 bản án là 05 năm tù. Ngày 26/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử 5 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”(chấp hành xong hình phạt ngày 19/10/2023). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Vi Hải D: Bà Phan Thị Tú G, sinh năm 1979 - Luật sư văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh N. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H1:Ông Lê Danh T1, sinh năm 1964 - Luật sư văn phòng L2 – Đoàn luật sư tỉnh N.(có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Dương Minh H2, sinh năm 1985, địa chỉ: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
+ Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1990, địa chỉ: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. (có mặt)
+ Bà Hà Thị N, sinh năm 1993, địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
- Người chứng kiến:Ông Trần Văn T3, sinh năm 1988, địa chỉ: Khối T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Trong quá trình chấp hành án phạt tù tại Trại giam Đ - Bộ C, Vi H quen biết Nguyễn Công H1. Sau khi chấp hành xong án phạt tù về địa phương, D và H1 liên lạc, trao đổi với nhau về việc mua bán ma túy kiếm lời. Vào khoảng 20 giờ ngày 02/01/2024, Nguyễn Công H1 sử dụng số điện thoại 0974.360.xxx gọi đến số 0368570146 của Vi H đặt mua 1 cây ma túy (Heroine), D đồng ý. Cả 2 thống nhất giá 01 cây ma túy (H) là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), D cho H1 số tài khoản 19033879207017 ngân hàng T4 mang tên Hà Thị N (là con dâu Vi H) để H1 chuyển tiền cọc mua ma túy. Sau đó, Nguyễn Công H1 ghi thông tin này vào một mảnh giấy. Đến ngày 04/01/2024, H1 nhờ Bùi Thị T2, sinh năm 1990, trú tại xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An chuyển khoản số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) đến số tài khoản 19033879207017 ngân hàng T4 mang tên Hà Thị N; Sau đó, H1 tiếp tục nhờ Dương Minh H2, sinh năm 1985, trú tại xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An chuyển khoản số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) đến số tài khoản 19033879207017 ngân hàng T4 mang tên Hà Thị N và thông báo cho D biết. Sau khi nhận được tiền, Hà Thị N đã rút số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) đưa cho Vi Hải D. Chiều cùng ngày, D một mình đi vào bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp người đàn ông tên V (không rõ lai lịch) hỏi mua 7,5 chỉ (H) với giá 9.800.000₫ (Chín triệu tám trăm nghìn đồng). D đã trả trước cho Và số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) sau đó đưa về nhà cất giấu. Sau khi mua được ma túy, Vi Hải D gọi điện thoại hẹn H1 sáng ngày 06/01/2024 sẽ giao ma túy cho H1 tại khu vực Ngã tư G, thành phố V và thanh toán số tiền còn lại. Trước đó, vào ngày 31/12/2023 V1 đã mua của người đàn ông tên V (không rõ lai lịch) khoảng 3 chỉ (H) với giá 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) đưa về nhà cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi mua được số ma túy, D lấy một ít ma túy (Heroine) đã mua trước đó cho vào cùng với số ma túy vừa mua được (khoảng 1 cây) cất giấu vào túi áo màu xanh đang mặc để đưa xuống thành phố V bán cho Nguyễn Công H1. Số ma túy (Heroine) còn lại Dương giấu trong phòng ngủ của mình mục đích sử dụng và bán kiếm lời.Đến khoảng 02 giờ 38 phút, ngày 06/01/2024, V1 đi bộ từ nhà đến khu vực đường tỉnh lộ DT543 thuộc bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để đón xe khách Trung Bích BKS 37B- 025.36 đến thành phố V, tỉnh Nghệ An để giao ma túy cho H1. Khi lên xe khách Vi H bị lực lượng chức năng kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trong túi áo khoác màu xanh V1 đang mặc có 01 (một) gói ni lông màu vàng bên trong có 4 (bốn) gói được bọc bằng giấy trắng, trong 4 (bốn) gói giấy đều chứa chất rắn màu trắng có khối lượng 32,44 gam (nghi là ma túy), 02 (hai) điện thoại di động đã qua sử dụng. V1 khai nhận số chất rắn màu trắng là ma túy (Heroine) D đang trên đường đưa xuống thành phố V để bán cho Nguyễn Công H1, sinh năm 1980, trú tại xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vi H tại bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thu giữ trong hộp giấy để bên phải cửa ra vào phòng ngủ 01 (một) gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi ma túy), thu trong ngăn dưới cùng bên trái tủ gỗ 01 (một) lọ nhựa màu xanh có dán tem in chữ nước ngoài, bên trong có một gói bọc bằng bao ni lông màu hồng chứa chất màu trắng có tổng khối lượng 6,04 gam (nghi là ma túy).
Ngày 19/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Công H1 thu giữ 2 (hai) điện thoại di động và 1 (một) mảnh giấy kẻ ô ly, trên mảnh giấy có ghi số tài khoản 19033879207017 ngân hàng T4 mang tên Hà Thị N.
Kết luận giám định số 137/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“06 mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M6) thu giữ của V1 gửi tới giám định đều là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số chất bột màu trắng thu giữ của V1 có tổng khối lượng là 38,48 gam".
Với nội dung trên,tại bản, Cáo trạng số 130/CT-VKS-P1ngày 18/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Vi Hải D và Nguyễn Công H3 tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo Vi Hải D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
- Bị cáo Nguyễn Công H1 không thừa nhận hành vi mua bán ma túy với Vi Hải D.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 5, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự : Xử phạt bị cáo Vi H – 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 25, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H1 16–17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về vật chứng:
- - Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành nên đề nghị Toà án tịch thu tiêu huỷ.
- - Sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imeil: 353102113833377, số Imei2: 353102113833385 thu giữ của V1 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số Imei 1: 353291074881523; số Imei 2: 35329107488152 thu giữ của Nguyễn Công H4 công cụ, phương tiện sử dụng cho việc phạm tội.
- - Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi số Imei 1: 864291064314461; số Imei 2: 864291064314479 thu giữ của Vi Hải D (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, có số Serial: 356005085958303thu giữ của Nguyễn Công H1 do không liên quan đến việc phạm tội
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận:
- Người bào chữa cho bị cáo Vi Hải D1 tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo chưa thu lợi bất chính, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo.Do đó, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H1 không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Vi Hải D đồng ý với phần bào chữa của người bào chữa về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Nguyễn Công H1 cho rằng bị cáo nhờ bị cáo D mua ma túy để bị cáo sử dụng. Do đó, truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không đúng.
Quá trình đối đáp đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị xử phạt hai bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Lời nói sau bị cáo D: Sau khi bị bắt, bị tạm giam, các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để các bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.
Bị cáo H1 cho rằng bị cáo mua ma túy về để sử dụng nên đề nghị xem xét lại tội danh cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Vi Hải D thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố, bị cáo Nguyễn Công H1 tại phần tranh tụng không thừa nhận cùng bị cáo Vi Hải D mua bán ma túy, tại phần tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo H1 cho rằng bị cáo nhờ bị cáo D mua ma túy với mục đích để sử dụng nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không đúng. Hội đồng xét xử thấy rằng tại lời khai nhận tội ban đầu của bị cáo Nguyễn Công H1 gồm: Các Bản tự khai ngày 19/3/2024 (BL 199,200,201), Biên bản ghi lời khai có ghi âm, ghi hình (BL 203.204), lời khai bị cáo H1 về việc nhờ chị Bùi Thị T2, anh Dương Minh H2 chuyển tiền cho D qua tài khoản của chị Hà Thị N, phù hợp về thời gian các cuộc gọi được thể hiện trong điện thoại của bị cáo D, bị cáo H1, phù hợp với list điện thoại đã thu giữ và phù hợp lời khai của bị cáo Vi Hải D, tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo H1 đều khai nhận bản thân bị cáo không nghiện ma túy từ khi ra tù. Như vậy, đủ căn cứ kết luận ngày 02/01/2024 Nguyễn Công H1 đã đặt mua của V1 1 cây ma túy (H) với giá 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), H1 chuyển cọc trước cho D số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) qua tài khoản số 19033879207017 ngân hàng T4 mang tên Hà Thị N. Sau khi nhận tiền cọc của Nguyễn Công H1 .Vi Hải D đã một mình đi vào bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An mua của một người đàn ông tên V (không rõ lại lịch) 7,5 chỉ Hệ Rô in với giá 9.800.000đ về nhà cất dấu. Ngày 6/1/2024 V1 mang theo 32,44 gam ma túy (Heroine) đi giao cho bị cáo H1 thì bị bắt quả tang vào hồi 2 giờ 38 phút, ngày 06/01/2024, tại khu vực đường tỉnh lộ DT543 thuộc bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi bắt quả tang, khám xét nơi ở của bị cáo Vi Hải D thu giữ thêm 6,04 gam ma túy (Heroine) nhằm mục đích bán để kiếm lời.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Vi Hải D và Nguyễn Công H1 đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", bị cáo D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái pháp chất ma túy với khối lượng 38,48g ma túy; bị cáo Nguyễn Công H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép khối lượng 32,44g ma túy. Do đó, Cáo trạng số 130/CT- VKS - P1 ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vi Hải D và Nguyễn Công H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vi H có 04 tiền án chưa được xóa án tích .Bị cáo Nguyễn Công H1 có 03 tiền án, chưa được xóa án tích. Nên lần phạm tội này của các bị cáo đều thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vi Hải D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Thấy rằng, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, bị cáo H1 là người trực tiếp nhờ bị cáo D mua ma túy và đưa xuống thành phố V cho bị cáo H1, bị cáo D là người thực hành tích cực. Do đó, hai bị cáo có vai trò tương đồng nhau trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo D ngoài hành vi cùng phạm tội với bị cáo H1, còn thu giữ thêm khối lượng ma túy tại nhà do đó bị cáo có khối lượng phạm tội nhiều hơn cần xét xử mức án cao hơn. Tuy nhiên, do bị cáo D khai báo thành khẩn, bị cáo H1 khai báo không thành khẩn nên khi lượng hình cần áp dụng hình phạt đối với cả hai bị cáo ngang nhau.
[4] Xét hành vi, tính chất vụ án: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là nguồn gốc sâu xa làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đều đã từng bị kết án về các tội ma túy nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội mà hám lợi tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ dài nhằm răn đe bị cáo, cũng như phòng ngừa loại tội phạm này trong xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[6] Về các nội dung khác của vụ án:
Trong vụ án này, V1 khai đã mua ma túy của người đàn ông tên V nhưng D không biết lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.
Đối với Hà Thị N, sinh năm 1993, trú tại bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là con dâu của V1), N khai đã cho Vi Hải D số tài khoản 19033879207017 ngân hàng T4 mang tên Hà Thị N để người khác chuyển tiền mua trâu bò giúp D. N không biết D sử dụng số tài khoản để thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy. Với tài liệu thu thập được chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự trong vụ án này.
Đối với Dương Minh H2, Bùi Thị T2 là người được Nguyễn Công H1 nhờ chuyển tiền cho Vi Hải D, H2 và T2 không biết việc H1 nhờ chuyển tiền để thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy. Với tài liệu thu thập được chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự trong vụ án này.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về vật chứng vụ án:
- - Ma tuý là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei1: 353102113833377, số Imei2: 353102113833385 của Vi H và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số Imei 1: 353291074881523; số Imei 2: 35329107488152 của Nguyễn Công H1 được các bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm.
- - Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi số Imei 1: 864291064314461; số Imei 2: 864291064314479 cho Vi Hải D (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, có số Serial: 356005085958303 cho Nguyễn Công H1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- [8] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Hải D 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/1/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Vi Hải D.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H1 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Công H1.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ 24,39 gamHeroine còn lại sau khi giám định.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imeil: 353102113833377, số Imei2: 353102113833385thu của Vi Hải D và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số Imei 1: 353291074881523; số Imei 2: 35329107488152thu của Nguyễn Công H1.
- - Trả lại cho Vi Hải D2 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi số Imei 1: 864291064314461; số Imei 2: 864291064314479
- - Trả lại cho Nguyễn Công H1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, có số Serial: 356005085958303
Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Vi Hải D và Nguyễn Công H1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Mai Khanh |
Nguyễn Hồ Cảnh |
Nguyễn Thị Hải Minh |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
