Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 132/2024/DS-PT

Ngày 30 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên.
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha
Bà Đặng Thị Bích Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 126/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Mai Thị N, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà A, tổ A, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • - Người kháng cáo: Bị đơn Anh Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và tại phiên Tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Mai Thị N trình bày:

Vào ngày 08/10/2020 chị có nhờ anh Nguyễn Văn T là tổ trưởng tổ vay vốn của Ngân hàng C (phòng giao dịch huyện G) làm hồ sơ cho chị vay chương trình cây nước sạch số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Sau khi nhận tiền từ Ngân hàng, cùng ngày anh T có hỏi mượn lại của chị số tiền là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), chị đồng ý cho mượn, anh T có ghi giấy nhận nợ và hẹn 01 tháng sau là ngày 08/11/2020 sẽ trả lại tiền cho chị. Tuy nhiên, khi đến hẹn anh T không thực hiện việc trả tiền như đã hứa, sau nhiều lần chị đòi thì tháng 6 năm 2021 anh T có trả cho chị được 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), còn lại 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đến nay anh T không trả cho chị.

Nay chị yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc anh T phải trả cho chị số tiền gốc là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và tiền lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng C từ ngày 08/10/2020 đến khi giải quyết xong vụ kiện.

* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm tòa bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Vào năm 2020 anh có làm tổ trưởng tổ vay vốn Ngân hàng C. Lúc này chị N có đến gặp và yêu cầu anh làm hồ sơ cho chị vay vốn chương trình cây nước sạch, nhưng khi đó tổ của ông đã đủ người vay theo quy định nên không làm được. Chị N năn nỉ nhiều lần, thấy chị cũng khó khăn nên anh có nói với chị N rằng trong tổ vay có một hộ vay còn thiếu Ngân hàng 12.000.000 đồng, tháng sau sẽ trả, khi nào trả xong chị mới vay được. Nếu chị N muốn vay liền thì chị phải bỏ ra số tiền là 12.000.000 đồng để trả thay, đến tháng sau khi hộ vay trả tiền thì anh sẽ thu và chịu trách nhiệm trả lại cho chị N. Khi đó chị N nói rằng chị không có khả năng nên anh có hỏi mượn tiền của người khác 12.000.000 đồng để trả cho Ngân hàng chính sách giùm cho hộ vay hết 8.000.000 đồng, còn 4.000.000 đồng thì anh cất giữ.

Sau khi anh trả tiền xong, đến ngày 08/10/2020 chị N được vay số tiền là 20.000.000 đồng, sau khi rút tiền về chị N có đưa lại cho anh 12.000.000 đồng để anh trả lại cho người khác, lúc này anh có làm biên nhận để nhận tiền của chị N và hẹn đến ngày 08/11/2020 sẽ trả.

Khoảng tháng 10/2020 anh có thu nợ của hộ vay mà anh đã trả giùm trước đó số tiền là 8.000.000 đồng. Đến ngày 08/11/2020 anh có đến nhà chị N trả cho chị 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), anh trả trực tiếp cho chị N nhưng không nhớ đến biên nhận nhận nợ với chị N nên anh không có yêu cầu chị N trả lại biên nhận nói trên cho anh.

Tuy nhiên, sau khi anh trả tiền xong cho chị N anh có đi thu tiền lãi hàng tháng và chị N vẫn đóng lãi đầy đủ từ tháng 12/2020 đến tháng 6/2021. Vào tháng 6/2021 Ngân hàng có kiểm tra việc cho vay và thu lãi lúc này mới phát hiện tờ biên nhận của anh với chị N, sau đó Ngân hàng có yêu cầu anh phải trả lại số tiền cho chị N thì anh cũng đồng ý trả vì đó là sơ sót của bản thân anh nên vào ngày 06/6/2021 anh có tiếp tục trả cho chị N 12.000.000 đồng, hai bên có làm biên nhận với nhau nhưng khi hòa giải tại Ban lãnh đạo ấp T, xã T, anh đã nộp biên nhận này cho lãnh đạo ấp T cất giữ và hiện nay đã bị thất lạc, anh chỉ còn lưu giữ ảnh chụp trên điện thoại.

Nay chị N yêu cầu anh trả cho chị số tiền gốc là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và tiền lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng C từ ngày 08/10/2020 đến nay thì anh không đồng ý. Vì anh đã trả xong chị N số tiền nói trên, anh không còn thiếu tiền gì của chị N.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N đối với anh Nguyễn Văn T.

Buộc anh Nguyễn Văn T giao trả cho chị Mai Thị N số tiền gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi là 2.927.500 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 12.927.500 đồng (mười hai triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 29/01/2024 anh Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang trong hạn luật định với nội dung: Anh T không đồng ý với Bản án sơ thẩm, không đồng ý trả tiền cho chị N như bản án sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn chị Mai Thị N yêu cầu anh T trả cho chị số tiền là 8.000.000 đồng vào ngày 10/6/2024 dương lịch.
  • - Bị đơn anh Nguyễn Văn T thống nhất theo yêu cầu của chị Mại Thị N1 và đồng ý trả cho chị N1 số tiền là 8.000.000 đồng vào ngày 10/6/2024 dương lịch.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:

  • - Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn văn T1, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, theo hướng công nhận sự tự nguyện của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Anh Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả cho chị Mai Thị N số tiền là 8.000.000 đồng, thời gian trả vào ngày 10/6/2024 dương lịch.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Nội dung tranh chấp:

Vào ngày 08/10/2020 chị N có cho anh T mượn số tiền là 12.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng sau sẽ thanh toán, hai bên có làm biên nhận với nhau. Đến hẹn anh T không trả tiền như đã thỏa thuận, chị N đòi nhiều lần thì anh T trả được 2.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng đến nay anh T không trả nên hai bên phát sinh tranh chấp.

Bị đơn anh T thừa nhận vào ngày 08/10/2020 anh có nhận của chị N số tiền 12.000.000 đồng, có làm biên nhận và hẹn 01 tháng sẽ trả như chị N trình bày. Nhưng anh T cho rằng số tiền trên anh đã trả xong cho chị N, nay chị N yêu cầu anh trả 10.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng C từ ngày 08/10/2020 đến nay thì anh không đồng ý.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị N là có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, trong quá trình giải quyết vụ án anh T thừa nhận có nhận số tiền 12.000.000 đồng và làm biên nhận ngày 08/10/2020 với chị N.

Anh T xác định anh đã trả cho chị N số tiền trên nhưng chị N không thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ kiện anh T không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình, anh T cho rằng khi anh trả lại tiền cho chị N có làm biên nhận ngày 06/6/2021 nhưng khi hòa giải tại ấp, anh đã nộp biên nhận cho lãnh đạo ấp cất giữ và hiện nay đã bị thất lạc, anh chỉ chụp ảnh lưu giữ trên điện thoại. Tại phiên tòa anh T có cung cấp biên nhận ngày 06/6/2021 (bản scan từ diện thoại) và biên bản hòa giải ngày 17/5/2022 tại ấp. Tuy nhiên, chị N chỉ thừa nhận đó là biên nhận mà anh T trả cho chị số tiền 2.000.000 đồng vào tháng 6 năm 2021 chứ không phải trả 12.000.000 đồng như anh T trình bày, biên nhận là do anh T tự sửa lại từ 2.000.000 đồng thành 12.000.000 đồng. Mặt khác, tại biên bản hòa giải mà anh T cung cấp cũng không thể hiện việc anh có trả tiền cho chị N, trả bao nhiêu mà chỉ thể hiện nội dung là anh T tìm được giấy gốc, qua đối chiếu chữ ký không giám định được và chị N không thừa nhận biên nhận nêu trên. Từ đó xét thấy việc anh T cho rằng anh đã trả tiền cho chị N là không có căn cứ.

[2.3] Xét yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng C từ ngày 08/10/2020 đến khi vụ án được giải quyết xong của chị N là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể:

Tiền lãi phát sinh từ ngày 08/10/2020 đến ngày xét xử 09/01/2024 là 39 tháng 01 ngày, lãi suất là 9%/năm, lãi suất phát sinh: 10.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 39 tháng 01 ngày = 2.927.500 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi là 12.927.500 đồng (mười hai triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiên của chị N, buộc anh T trả cho chị N số tiền gốc là 10.000.000 đồng và số tiền lãi là 2.927.500 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 12.927.500 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chị Mai Thị N và anh Nguyễn Văn T thống nhất thỏa thuận anh Nguyễn Văn T sẽ có trách nhiệm trả cho chi Mai Thị N số tiền là 8.000.000 đồng và thời gian trả là vào ngày 10/6/2024 dương lịch.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự là sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái với đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm là anh T có trách nhiệm trả cho chị N số tiền là 8.000.000 đồng, thời gian trả vào ngày 10/6/2024 dương lịch.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[4] Về án phí:

[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của chị N được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền: 8.000.000 đồng x 5% = 400.000 đồng.

Hoàn trả lại cho chị N tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003374 ngày 04/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do anh Trần Thanh K nộp thay).

[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Văn T kháng cáo được chấp nhận một phần, nên anh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho anh T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005662 ngày 26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ vào Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn chị Mai Thị N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn anh Nguyễn Văn T.

Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả cho chị Mai Thị N số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), thời gian trả vào ngày 10/6/2024 dương lịch.

Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành án như đã thỏa thuận thì người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí:

2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 400.000 đồng (bốn trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

Hoàn trả lại cho chị Mai Thị N tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003374 ngày 04/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (do anh Trần Thanh K nộp thay).

2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005662 ngày 26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Giồng Riềng;
  • - THA dân sự huyện Giồng Riềng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/DS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 132/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị N tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger