Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/DSPT

Ngày: 28 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

---

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhài

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1. Ông Nguyễn Văn Quế

2. Ông Hoàng Văn Giang

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên .

Trong các ngày 23 và ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐ - PT ngày 03 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Văn S, sinh năm 1966, trú tại: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965.(Có mặt)

    Địa chỉ: Xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    - Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức N và ông Nguyễn Văn T2, Công ty L1. Địa chỉ: Số B, đường N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (Ông N vắng mặt; ông T2 có mặt ngày 23, vắng mặt ngày 28)

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    • Ủy ban nhân dân thành phố T.

      Đại diện theo pháp luật ông: Nguyễn L, chức vụ: Chủ tịch. (Vắng mặt)

    • Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971.(Có mặt)

      Địa chỉ: Xóm S, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

    • - Ông Nguyễn Đức T3, sinh năm 1971.(Vắng mặt ngày 23, có mặt ngày 28).

Địa chỉ: Xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyê.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Vũ Văn S trình bày:

Ngày 11/9/2004 bà Trần Thị T có mua 80m² đất thổ cư tại thửa 574, tờ bản đồ số 9, địa chỉ thửa đất tại xóm S, xã Q, thành phố T của ông Nguyễn Văn T1 với giá là 10.000.000 đồng. Bà T đã trả đủ tiền. Khi mua bán các bên có làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định được ông T1 và gia đình giao đất theo từng vị trí cụ thể.

Đến ngày 19/01/2005 bà Trần Thị T đã được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định với diện tích đất thổ cư là 80m2 tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 9 (thửa 574 được tách ra bởi thửa 410). Sau khi được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do trong quá trình quản lý bà T đã làm thất lạc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp năm 2005, sau đó bà T và gia đình đã làm các thủ tục để được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2009 Ủy ban nhân dân thành phố T đã cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T và ông T3.

Bà T xác định tại thời điểm mua bán chuyển nhượng đất, ông T1 có chỉ rõ vị trí đất chuyển nhượng cho bà T, có cán bộ địa chính đến đo vẽ. Cụ thể: Phía Đông giáp đất ông B, phía Nam giáp đất ông T1, phía tây giáp đất ông T1 và phía Bắc giáp cánh đồng lúa (khi chuyển nhượng đất không có tài sản gì trên đất). Do chưa có nhu cầu nên gia đình bà T chưa xây dựng gì trên diện tích đất mua bán với ông T1. Tuy nhiên, ông T1 đã tự ý xây dựng 01 nhà tạm trên 1 phần diện tích đất của nhà bà T vào khoảng năm 2006, bà T đã nhắc nhở ông T1, nhưng ông T1 nói chỉ xây tạm và bảo khi nào gia đình bà T cần sử dụng thì sẽ tháo dỡ trả đất cho gia đình bà T. Nay do nhu cầu cần sử dụng diện tích đất trên bà T yêu cầu ông T1 trả lại đất thì ông T1 không trả, chính quyền địa phương đã hòa giải nhưng không thành. Nay bà T khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên giải quyết, buộc ông Nguyễn Văn T1 tháo dỡ và trả lại diện tích đất thổ cư là 80m² tại xóm S, xã Q, thành phố T mà bà T đã được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận vào năm 2005 và đã được cấp lại Giấy chứng nhận QSD đất vào năm 2009. Không nhất trí yêu cầu phản tố của bị đơn ông T1 về việc hủy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của bà T.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và đại diện theo ủy quyền của ông T1 trình bày:

Năm 2004 ông T1 có bán đất cho bà T tại thửa 410 mà ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002, ông T1 và bà T đã giao nhận đất tại thực địa, cùng nhau cắm mốc giới để bà T xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà T đã xây nhà để sử dụng trên diện tích đất mua bán chuyển nhượng từ đó đến nay. Vị trí ông bán đất cho bà T nằm hoàn toàn tại thửa mà ông mua của bà T4 và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay bà T cho rằng diện tích đất bà đang quản lý sử dụng là nằm trong thửa 412 không phải thửa 410 như đã mua của ông T1, nên bà T khởi kiện yêu cầu ông phải trả cho bà diện tích 80m² mà ông đã bán cho bà T tại thửa 410 thì ông không nhất trí, với các lý do sau đây:

  • Thửa 410 có nguồn gốc do ông mua của bà T4 là thửa 194, tờ bản đồ số 24 (Bản đồ 299), diện tích 2,712 m2. Sau khi mua ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chỉnh lý số thửa theo bản đồ địa chính là thửa 410 tờ bản đồ số 9 diện tích 2,712 m2 đất thổ cư. Tuy nhiên, do quá trình đo đạc bản đồ địa chính cơ quan đo đạc đã đo tách thửa 194 tờ bản đồ 299 trước kia thành 02 thửa gồm thửa 410 diện tích 2.330m² loại đất thổ cư và thửa 412 diện tích 272 m² loại đất màu. Diện tích đất ông mua của bà T4 là 2.712m² nhưng thửa 410 theo bản đồ địa chính mới chỉ có 2.330m², nếu cộng diện tích thửa 410 và thửa 412 (2.330 + 272) cũng chỉ bằng 2.602m2, vẫn còn thiếu 110m² so với diện tích ông mua của bà T4. Như vậy, chứng tỏ có sự sai sót khi đo đạc bản đồ địa chính không đúng với ranh giới theo bản đồ 229 cũ và thực tế sử dụng đất của ông dẫn đến việc tách một phần diện tích đất thửa 410 của ông thành thửa 412 với diện tích 272m².

  • Diện tích đất ông T1 bán cho bà T tiếp giáp với diện tích đất ông T1 bán cho ông B. Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 với ông B có thể hiện giáp ranh phía Đông diện tích đất mua bán giữa ông T1 và ông B là đất của ông Đ; thực tế cũng thể hiện rõ phía Đông thửa đất mà ông T1 mua của bà T4 là thửa 445 của gia đình ông Đ. Nếu bản đồ địa chính là đúng thì thửa 410 của ông T1 không giáp ranh thửa 445 của ông Đ mà bị ngăn cách bởi thửa 412 rồi mới đến thửa 445 của ông Đ. Đối chiếu ranh giới được mô tả trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 và ông B; đối chiếu về diện tích thửa đất 410 ông T1 được cấp giấy chứng nhận với diện tích thửa đất 194 ông T1 mua của bà T4 thì có thể xác định thửa 412 theo bản đồ địa chính là một phần của thửa 410 mà ông T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc đo đạc bản đồ địa chính tách thành thửa 412 là không đúng thực tế sử dụng đất của ông T1.

  • Bản thân bà T cũng xác định khi thỏa thuận mua bán đất năm 2004 thì bà T và ông T1 đã cùng xác định ranh giới, mốc giới đất mua bán tại thực địa để bà T xây nhà. Do vậy, xác định Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 244914 ngày 09/6/2009 đối với thửa đất số 574 diện tích 80m² là không đúng vị trí đất mua bán giữa ông T1 và bà T, ông T3.

Ông T1 không nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà T và có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên tuyên Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 244914 do UBND thành phố T cấp ngày 09/6/2009 đối với thửa đất số 574 diện tích 80m² cho bà Trần Thị T và ông Nguyễn Đức T3 vì “cấp không đúng vị trí diện tích đất đã mua bán giữa các bên".

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • Bà Nguyễn Thị H:

    Thống nhất với lời khai và quan điểm của ông T1 và ông T2 là người được ủy quyền của bà và ông T1.
  • Ông Nguyễn Đức T3:

    Nhất trí nội dung khởi kiện và yêu cầu đề nghị của bà Trần Thị T, ngoài ra ông không có yêu cầu độc lập. Đề nghị được vắng mặt tham gia các phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án khi giải quyết.
  • Ủy ban nhân dân thành phố T

    đại diện theo ủy quyền ông Đinh Công Í trình bày: Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T và ông Nguyễn Đức T3.

Ngày 29/11/1994, Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0093304 cho Nguyễn Thanh T5 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ 299 số 24, với diện tích 2712m² loại đất thổ cư. Bà Nguyễn Thanh T5 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T1; ngày 09/6/2002, Ủy ban nhân dân thành phố cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 018427 cho ông Nguyễn Văn T1 tại thửa đất số 410, tờ bản đồ địa chính số I, xã Q, thành phố T.

Ngày 11/9/2004, ông Nguyễn Văn T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị T (vợ ông Nguyễn Đức T3) diện tích 80m² loại đất T tại thửa đất số 410 và được chỉnh lý thành thửa đất số 574, tờ bản đồ số 09. Hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã Q xác nhận ngày 06/10/2004.

Ngày 09/6/2009, Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 400162 cho bà Trần Thị T với diện tích 80m² tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 09, xã Q, thành phố T.

Như vậy, căn cứ hồ sơ việc Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 09/6/2009 mang tên bà Trần Thị T và ông Nguyễn Đức T3 đúng trình tự thủ tục. Việc ông Nguyễn Văn T1 có yêu cầu Tòa án nhân dân hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T, ông T3 tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 09, diện tích 80m² vị trí đất tại xã Q, đề nghị quý tòa căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết.

Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ cấp sơ thẩm xác định: Thửa 574, tờ bản đồ số 09 có diện tích 74,7m² có các vị trí 1,2,3,4,1. Tại biên bản định giá ngày 16/6/2022 xác định giá trị đất ở nông thôn 74,7m² x 1.100.000đ/1m² = 82.170.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã Tuyên xử:

Áp dụng các điều 26, 35, 39, 143, 146, 147, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Điều 100, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 705, 707 Bộ luật dân sự 2005; Các Điều 158, 159, 160, 161, 166, 175, 221, 223 và Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1 về việc đòi lại quyền sử dụng đất theo như hồ sơ pháp lý.

    Buộc ông Nguyễn Văn T1 phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là 27,5m² và trả lại diện tích đất cho bà Trần Thị T, ông Nguyễn Đức T3 là 74,7m² đất (có các vị trí 1, 2, 3, 4, 1 theo sơ đồ đo vẽ ) tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 9 vị trí đất tại xã Q, thành phố T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A0244914 của UBND Thành phố T cấp ngày 09/6/2009 mang tên hộ bà Trần Thị T và ông Nguyễn Đức T3. (Kèm theo là trích lục sơ đồ thửa đất)

  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T1 về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A0244914 của UBND thành phố T cấp ngày 09/6/2009 mang tên hộ bà Trần Thị T và ông Nguyễn Đức T3.

  3. Án phí và chi phí tố tụng:

    • Buộc ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 4.108.500 đồng và phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng ông T1 đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0000819 ngày 05/4/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên.

    • Ông Nguyễn Văn T1 có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T chi phí tố tụng là 6.500.000 đồng.

    • Hoàn trả bà Trần Thị T số tiền 10.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số 0000740 ngày 21/11/2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự.

* Ngày 15/9/2023 ông Nguyễn Văn T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T1, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà Trần Thị T, ông Nguyễn Đức T3, hoặc hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị đơn ông T1 và người đại diện ủy quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị đơn không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn vì cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T không đúng vị trí đất bị đơn bán cho bà T năm 2004.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T trình bày: Năm 2004 bà T mua diện tích đất 80m², thửa 574, tờ bản đồ số 9, được tách ra từ thửa 410 của ông T1. Hợp đồng chuyển nhượng được làm vào tháng 9/2004 và được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004. Khi mua bán có được ông T1 chỉ vị trí, ranh giới, mốc giới. Năm 2004 mua đất xong, năm 2005 gia đình bà T đã xây dựng nhà cấp 4 đúng trên vị trí đất mà ông T1 đã chỉ và ở từ đó. Năm 2007 do bị thất lạc mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên gia đình bà T làm thủ tục xin cấp lại, được UBND thành phố T cấp lại vào năm 2009. Sau đó, gia đình bà T tìm hiểu thì được biết vị trí gia đình đang sử dụng không đúng với vị trí đất mà gia đình bà T được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hai bên gia đình cũng đã gặp gỡ trao đổi nhưng không có kết quả. Ông không nhất trí với kháng cáo của bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1 làm trong hạn luật định đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

    - Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố T, ông Nguyễn Đức T3 xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử theo quy định.

  2. Về nguồn gốc thửa đất số 194 được thể hiện như sau: Ngày 29/11/1994, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho bà Nguyễn Thanh T5 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 24 (bản đồ 299) với diện tích 2.712m² là đất thổ cư. Ngày 17/6/2002 bà T5 chuyển nhượng cho ông T1 toàn bộ thửa đất số 194. Ngày 09/6/2002, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T1, lúc này từ thửa 194 đổi thành thửa số 410 diện tích 2.712m² loại đất T, tờ bản đồ địa chính số 09, xã Q, thành phố T (BL 76, 77).

    Ngày 11/9/2004, ông Nguyễn Văn T1 chuyển nhượng một phần diện tích đất cho bà Trần Thị T với diện tích 80m², đất thổ cư, tại thửa đất số 410 và được chỉnh lý thành thửa đất số 574, tờ bản đồ số 09. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã Q xác nhận ngày 06/10/2004. Theo hợp đồng chuyển nhượng này thì phía Đông giáp đất ông B; Phía Tây giáp đất ông T1; Phía Nam giáp đất ông T1; Phía Bắc giáp cánh đồng lúa (BL 87). Theo đơn xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T ghi ngày 22/11/2007 thể hiện: Năm 2004 bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng của anh T1 năm 2004, gia đình đã làm nhà và hiện đang sống trên mảnh đất đó từ năm 2004 đến nay, nhưng do sơ xuất nên bị mất xin cấp lại (BL 96). Đến ngày 09/6/2009, UBND thành phố T cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 244914 đứng tên hộ bà Trần Thị T và ông Nguyễn Đức T3 với diện tích 80m² đất thổ cư, tại thửa đất số 574, tờ bản đồ số 09, xã Q, thành phố T.

  3. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, Hội đồng xét xử xét thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T1 được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 09/6/2002 thửa đất số 410 diện tích 2.712m² đất T, tờ bản đồ địa chính số 09, xã Q, thành phố T. Như vậy, ông T1 có toàn quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tất cả thửa đất số 410 của ông T1 có diện tích 2.712m² đều là đất thổ cư, khi chuyển nhượng cho bà T các bên đã chỉ vị trí, mốc giới cho nhau, bà T cũng thừa nhận đúng vị trí mua bán và bà T đã xây dựng nhà ở trên diện tích vị trí đất đó từ khi mua đến nay. Nay bà T khởi kiện cho rằng bà mua đất với ông T1 tại thửa đất 410 là đất thổ cư, không mua đất màu tại thửa số 412 bà T yêu cầu ông T1 phải trả lại cho bà đất thổ cư tại thửa 410 theo hồ sơ pháp lý.

  4. Căn cứ vào Bản đồ 299 tờ bản đồ số 24 thì thửa đất số 194 có diện tích 2.712m² là đất thổ cư mang tên bà T5 đến năm 2002 bà T5 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 194 cho ông T1 và ông T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 410 diện tích vẫn là 2.712m² là đất thổ cư.

  5. Đối chiếu bản đồ 299 tờ bản đồ số 24 với bản đồ địa chính xã Q, thì thửa 194 bản đồ 299 tương ứng với bản đồ địa chính là thửa 410 và thửa 412 có diện tích 2.602m². Ông T1 xác định từ khi mua đất của bà T5 đến nay ông T1 vẫn sử dụng cả 02 thửa 410 và 412 nhưng ông T1 không hề biết cơ quan có thẩm quyền đã tách thửa 410 là đất thổ cư của ông T1 thêm 01 thửa nữa là thửa 412 là đất màu từ năm 1995, chỉ đến khi bà T và ông B khởi kiện ông mới được biết thửa đất 194 ông mua của bà T5 từ năm 2002 bao gồm cả thửa 412.

  6. Tại biên bản làm việc của Ủy ban nhân dân xã Q ngày 11/01/2018 có mặt ông T3 (chồng bà T), ông B và các thành phần tham gia của UBND xã, đều công nhận thửa đất số 194 tờ bản đồ số 24 bản đồ 299, đối chiếu sang bản đồ địa chính thì vị trí thửa đất số 412 có diện tích 272m² là đất thổ cư. Ông Nguyễn Đức T3 và ông Tô Công B1 nhất trí cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng đang sử dụng (BL 245-249)

  7. Tại biên bản xác minh ngày 09/4/2024 tại Ủy ban nhân dân xã Q thể hiện: “Qua đối chiếu giữa bản đồ 299 đo vẽ năm 1986 với bản đồ địa chính đo vẽ năm 1995 thì thửa số 194, tờ bản đồ 24 trên bản đồ 299 tương ứng là thửa đất số 410 và thửa số 412 cùng tờ bản đồ số 09 trên bản đồ địa chính” (BL243).

  8. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/5/2024 có mặt ông S (người đại diện theo ủy quyền của bà T) ông T1, bà H, công chức địa chính xã Q và trưởng xóm S, xã Q xác định: Thửa đất số 412 tờ bản đồ số 09, bản đồ địa chính là một phần của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 24, bản đồ 299 xã Q đã được cấp quyền sử dụng đất ngày 29/11/1994 mang tên Nguyễn Thanh T5 diện tích 2.712m² loại đất thổ cư. Ngày 17/6/2002 bà T5 đã chuyển nhượng cho ông T1 toàn bộ thửa 194; còn thửa 412 theo bản đồ địa chính thì chưa cấp quyền sử dụng đất cho ai (BL271,272).

  9. Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng xác nhận khi mua bán hai bên đã chỉ rõ vị trí, cắm mốc giới, nguyên đơn đã xây nhà ở từ năm 2005 đến nay, tuy nhiên theo hồ sơ pháp lý vị trí đất nguyên đơn nhận chuyển nhượng theo bản trích đo hiện trạng thửa 574 có diện tích 74,7m² vị trí 1,2,3,4,1 không phải vị trí mà nguyên đơn đã sử dụng.

  10. Theo bản trích đo hiện trạng thì bà T đã xây dựng nhà và sử dụng từ năm 2005 các mốc theo sơ đồ (7, 8, 9, 10,7 diện tích 81m² có vị trí 9, 10 giáp đất ông B1; vị trí 12, 13 đất của ông B1 giáp đất của ông Đ). Điều đó chứng tỏ ông T1 và bà T đều khai thống nhất đúng vị trí, mốc giới mà ông T1 bán cho bà T và bà T đã xây dựng nhà trên đúng vị trí đất bà T mua, là phù hợp với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2004 mà ông T1 chuyển nhượng cho bà T (BL 90) và đơn xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T vào năm 2007 (BL 96). Nay bà T yêu cầu được lấy phần diện tích đất tại vị trí pháp lý mà bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm vào giữa thửa đất của ông T1 là điều hết sức vô lý và không đúng với hiện trạng đất mà bà T đã nhận chuyển nhượng và sử dụng.

  11. Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm thì có đủ căn cứ khẳng định vào ngày 11/9/2004 ông T1 chuyển nhượng cho bà T 80m² đất thổ cư tại thửa 412 nằm trong thửa 410 cho bà T là đúng thực tế hai bên mua bán chuyển nhượng cho nhau, bà T đã nhận đúng vị trí đất được chuyển nhượng và đã xây dựng nhà ở từ năm 2005.

  12. Xét trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T, Hội đồng xét xử thấy: Trình tự, thủ tục thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T, trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 và bà T là đảm bảo quy định của pháp luật. Tuy nhiên về nội dung, thì vị trí đất thực tế chuyển nhượng (bà T đã xây nhà từ 2005) không đúng với thửa đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T. Việc cấp không đúng vị trí đất chuyển nhượng là do nhầm lẫn từ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 (HĐ chuyển nhượng từ bà T5 sang ông T1), nguyên nhân là do sự tắc trách từ cán bộ địa chính phường, xã đến cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã không kiểm tra xác minh cụ thể. Do vậy, có căn cứ để hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T để cấp lại cho đúng vị trí đất bà T đã nhận chuyển nhượng và đang sử dụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại văn bản hướng dẫn giải đáp nghiệp vụ của Tòa án nhân dân Tối Cao tại mục II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019, trong trường hợp này không cần tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đã thông qua giao dịch, mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T theo đúng vị trí sử dụng đất (có các điểm 7,8,9,10,7 trên sơ đồ kèm theo bản án).

  13. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, xác định vị trí đất chuyển nhượng giữa ông T1, bà H và bà T trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/9/2004 là vị trí bà T đã xây nhà từ năm 2005, hiện vẫn đang sử dụng.

    Bà T, ông T3, ông T1, bà H có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp lại quyền sử dụng đất theo đúng vị trí, ranh giới đã mua bán với ông T1 năm 2004. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để thực hiện việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T, ông T3 và ông T1, bà H theo đúng vị trí sử dụng đất của các hộ (có các điểm theo sơ đồ kèm theo bản án).

  14. Về chi phí tố tụng và án phí dân sự các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

  15. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  16. Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 34, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Các Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Điều 100; 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 705, 707 Bộ luật dân sự 2005; Các Điều 158, 159, 160, 161, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

I. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, sửa bản án sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T1 về việc đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất theo như hồ sơ pháp lý thửa 574, tờ bản đồ số 9 xã Q (có các điểm 1,2,3,4,1 trên sơ đồ kèm theo bản án).

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T1: xác định vị trí đất chuyển nhượng giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị T trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/9/2004 là vị trí bà T đã xây nhà từ năm 2005, hiện nay vẫn đang sử dụng (có các điểm 7,8,9,10,7 trên sơ đồ kèm theo bản án).

  3. Bà Trần Thị T, ông Nguyễn Đức T3 và ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm các thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng sử dụng mà bà T đã mua của vợ chồng ông T1 năm 2004 theo đúng quy định của pháp luật.

  4. Về chi phí tố tụng: Bà T, ông T3 phải chịu chi phí định giá tài sản và đo đạc lần 1 là 6.500.000 đồng. Xác nhận bà T đã nộp đủ và chi phí xong. Chi phí đo đạc lần 2 là 3.600.000đ (ba triệu, sáu trăm nghìn đồng) ông T1 tự nguyện chịu và đã chi phí xong.

  5. Về án phí:

    1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T phải chịu 4.108.500đồng (Bốn triệu, một trăm linh tám nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự theo giá ngạch (được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0000740 ngày 25/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, số tiền còn lại được hoàn trả cho bà T).

      - Ông T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông T1 được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp, theo biên lai thu số 0000819 ngày 05/4/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm nghìn) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002033 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Nguyên.

  6. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 12/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

II. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TP. Thái Nguyên;
  • - THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nhài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/DSPT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 132/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất mà bà đã mua của ông T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger