|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2023/HS-ST Ngày 27 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Bà Nguyễn Thị Hà.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Ông Luyện Văn Thông - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2023/TLST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1995 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B(chết) và bà Thái Thị K; vợ Phan Thị Ú(không đăng ký kết hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: từ ngày 12/9/2023 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 12/9/2023, tại nhà ở của Nguyễn Văn T ở xóm T, xã T, huyện Y, tổ công tác Công an xã T, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T đang tàng trữ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 gói ni lông màu trắng, bên trong chứa 14 viên nén, hình tròn, màu hồng(T khai là ma túy), nên tiến hành thu giữ, niêm phong để xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 25 phút ngày 10/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T sử dụng điện thoại di dộng của mình nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX, màu vàng có gắn số thuê bao 0325.242.0211 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991, trú thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An - là người T quen biết trước đó để hỏi mua ma túy và đặt mua 1.100.000 đồng. Sau đó, T mượn xe ô tô của chị Ú(sống chung với T như vợ chồng), điều khiển xe đi từ nhà đến khu vực khách sạn M thuộc huyện D, tỉnh Nghệ An theo chỉ dẫn của T1. Trên đường đi, T1 có nhắn tin cho T với nội dung “Chuyển đi nạ, chạy xuống Minh P hắn ném cho dượng nạ”. T nói T1 nhắn tin gửi số tài khoản và T đã chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản của T1. Đến khoảng 19 giờ 12 phút, cùng ngày, khi T đi đến cạnh khách sạn M, đi tiếp khoảng 100 mét thì dừng xe. Khoảng 01 phút sau, T thấy 01 người đàn ông (T không quen biết) điều khiển xe mô tô đi đến nói T hạ kính chắn gió xe ô tô xuống thì người này ném vào xe ô tô 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Nhận được ma túy T về nhà mở vỏ bao thuốc lá trên thì thấy có 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa nhiều viên ma túy, T không đếm cụ thể số lượng rồi lấy 05 viên ra sử dụng, số ma túy còn lại bỏ vào túi quần bên phải đang mặc. Đến tối ngày 11/9/2023, T tiếp tục lấy 01 viên ma túy để sử dụng, số còn lại T bỏ vào túi quần đang mặc của mình. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/9/2023, khi T đang ngủ ở nhà mình thì Công an xã T đến mời T về trụ sở Công an xã làm việc liên quan đến việc T đánh chị Ú(vợ không đăng ký kết hôn) vào tối ngày 11/9/2023. Đồng thời qua kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần đang mặc bên phải của T 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa 14 viên ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX, màu vàng có gắn số thuê bao 0325.242.0211 đã qua sử dụng.
Ngày 12/9/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An đã thành lập hội đồng và tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T. Kết quả: 14 viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng là 1,41gam.
Tại bản Kết luận giám định số 933/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 17 tháng 9 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu viên nén, hình tròn, màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine)".
Tại bản cáo trạng số: 135/CT-VKS-YT ngày 28/11/2023 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, xử phạt Nguyễn Văn T từ 15 đến 18 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung vì bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ buộc tội: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo T đã có hành vi mua 1.100.000 đồng ma túy với mục đích đưa về sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, khối lượng ma túy được xác định là 1,41 gam Methamphetamine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, theo lời khai của T thì Nguyễn Thị T1 là người bán ma túy cho T. Tuy nhiên, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng T1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không ai biết, ngoài lời khai của T không có chứng cứ nào khác nên chưa đủ cơ sở xử lý đối với Nguyễn Thị T1.
- Về tình tiết tăng nặng: không
-
Về tính chất vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người và là hiểm họa cho toàn xã hội. Vì thế, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hơn nữa, bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt, bố mất sớm, mẹ già yếu đang mắc bệnh nặng, vợ (không đăng ký) của bị cáo bỏ đi khỏi địa phương, để lại 2 con nhỏ cho mẹ bị cáo chăm sóc, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm, song tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, cải tạo bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 5 điều 249 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân là người nghiện ma túy, hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn, nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các quy định của pháp luật cần tịch thu tiêu huỷ số ma túy là vật chứng còn lại vì không có giá trị sử dụng; đối 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo có liên quan đến vụ án nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS
Xử phạt: Nguyễn Văn T 15(mười lăm) tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam: 12/9/2023.
-
Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong theo quy định, bên trong chứa 12 viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 1,205 gam cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu.
-
- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX, màu vàng có gắn số thuê bao 0325.242.0211, đã qua sử dụng.
(Vật chứng, điện thoại đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý theo phiếu nhập kho số NK 0019 ngày 05/12/2023).
-
Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Giang |
Bản án số 132/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 132/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm về Nguyễn Văn T Tàng trữ ma túy
