|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 132/2023/HS-ST
Ngày: 27-10-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.
Ông Trần Đăng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 128/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Văn C, sinh năm 2000 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Sán chí; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn K và bà Ninh Thị K1; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lý Văn N, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Nơi thường trú: Thôn Cấm Vải, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở: Thôn Nương, xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 05/6/2023, Lý Văn C, sinh năm 2000, trú tại thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang đi ở trên đường liên thôn thuộc thôn C, xã K, thì có một người phụ nữ dùng số thuê bao điện thoại 0585.738.xxx gọi điện vào số thuê bao điện thoại 0353.913.xxx của C, bảo C đến Nhà văn hóa thôn N, xã H để mang một túi hàng giao cho khách, C lưu số điện thoại người phụ nữ này trong điện thoại của mình là “Chũ”. Sau đó C điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển kiểm soát đi đến điểm hẹn với người phụ nữ. Khi đi đến thôn T, xã H, huyện L, C thấy người phụ nữ cao khoảng 1m60, mặc áo chống nắng màu đen, đeo khẩu trang đứng gần khu vực Nhà văn hóa thôn T, C đến hỏi người phụ nữ đường đến thôn N thì người phụ nữ hỏi C “có phải C không” nên C nhận đoán đó là người phụ nữ đã gọi điện cho C trước đó. Qua trao đổi, người phụ nữ đưa cho C 01 túi nilon màu đen, bảo mang đi giao cho khách là một người đàn ông ở tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L; khi nào giao xong hàng thì người phụ nữ này trả tiền công cho C là 500.000 đồng. Người phụ nữ nói với C: “Em cứ xuống đấy khác có người lấy” rồi cho C số điện thoại của người đàn ông này là 0813.362.303, C lưu trong danh bạ điện thoại là “AB”. C cầm túi nilon màu đen đi được khoảng 10m thì dừng lại bỏ ra xem thì thấy bên trong có 01 túi nion màu trắng có rãnh khoá nhựa, đường viền màu đỏ, đựng một túi nilon màu trắng, có rãnh khoá nhựa và đường viền màu đỏ, bên trong chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine và 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khoá nhựa, đường viền màu đỏ, bên trong đựng 40 viên vén nén hình tròn màu hồng là ma túy ngựa. C biết đây là ma tuý do bản thân C cũng là đối tượng nghiện ma tuý. Do túi nilon màu đen to nên C đã vứt bỏ túi đi, cầm trong lòng bàn tay trái các túi nilon chứa ma tuý. Sau đó C điều khiển xe mô tô cầm số ma túy trên đến thị trấn C.
Hồi 15 giờ 12 phút ngày 05/6/2023, khi Lý Văn C đi đến Tổ dân phố Lê Hồng P, thị trấn C, huyện L thì dừng xe lại, lấy điện thoại ra đang bấm gọi cho người đàn ông thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn Chũ, huyện L phát hiện, lập biên bản bắt giữ người phạm quả tang; quá trình bắt quả tang, Lý Văn C làm rơi 02 gói ma tuý từ bàn tay trái xuống nền đất tại nơi bắt quả tang, Tổ Công tác đã tiến hành thu giữ tang vật gồm: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh có đường viền màu đỏ, bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ, bên trong đựng 40 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY”, nghi là ma túy. Toàn bộ tang vật thu giữ, nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT1”; Thu giữ tại túi quần đùi phía trước bên phải đang mặc của C số tiền 950.000đ, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT2”; thu giữ tại túi quần đùi phía trước bên trái đang mặc của C số tiền 700.000đ, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT3”; thu giữ 01 điện thoại di động iPhone 6 màu vàng, màn hình bị vỡ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển số; số khung: RLHJA 3923MY445556; số máy: JA39E2470740.
Ngày 05/6/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma tuý. Tại Kết luận giám định số 1058/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì có ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định:
- - Các viên nén hình tròn, màu hồng đỏ được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, có đường viền màu đỏ đều là ma tuý, loại methamphetamine, có tổng khối lượng 3,880 gam;
- - Chất cục bột màu trắng được đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ (bên ngoài là 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ) là ma tuý, loại Heroin, khối lượng 7,205gam.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của C ở thôn C, xã K. Kết quả khám xét thu giữ 01 biển số xe mô tô 98E1-811.10.
Ngày 23/6/2023, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín đối với các số thuê bao điện thoại 0585.438.xxx; 0813.362.303; 0353.913.830; bao gồm thông tin chủ sở hữu, cuộc gọi đi đến, tin nhắn đi đến từ ngày 03/6/2023 đến ngày 05/6/2023.
Đối với các số thuê bao điện thoại, C khai của người phụ nữ thuê C giao ma tuý, người đàn ông nhận ma tuý và số điên thoại của C, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh thu giữ điện tín gồm thông tin cá nhân và chủ sở hữu số thuê bao, lịch sử cuộc gọi đi đến và tin nhắn đi đến của các số thuê bao từ ngày 03/6/2023 đến 05/6/2023. Kết quả trả lời của Công ty Cổ phần V ngày 26/7/2023 xác định số thuê bao 0585.438.772 đăng ký chủ sở hữu là Nguyễn Thị H, sinh năm 2007, trú tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; ngày 03/6/2023 và 05/6/2023 số thuê bao điện thoại 0585.438.xxx đều gọi đến số thuê bao điện thoại 0353.913.xxx của C. Ngày 01/8/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện L ra quyết định uỷ thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xác minh nhân thân và lấy lời khai đối với Nguyễn Thị H. Kết quả uỷ thác điều tra: Công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc trả lời, qua rà soát hồ sơ, sổ sách, dữ liệu quốc gia về dân cư xác định trên địa bàn huyện V không có người nào có thông tin như trên.
Kết quả trả lời ngày 25/7/2023 của Tập đoàn C1 xác định số thuê bao 0353.913.830 đăng ký chủ sở hữu là Phạm Văn H1, sinh năm 2001, trú tại thôn G, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh Phạm Văn H1 khai Chiến có nhờ anh H1 đăng ký hộ số thuê bao 0353.913.830, ngoài ra anh không biết gì khác.
Kết quả trả lời ngày 04/7/2023 của Tổng Công ty H2 xác định số thuê bao 0813.362.303 đăng ký chủ sở hữu là Nguyễn Thị L, sinh năm 1952, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Bà L khai không đăng ký và sử dụng số thuê bao điện thoại 0813.362.xxx.
Đối với người phụ nữ thuê C giao ma tuý, C khai trước ngày 05/6/2023, người phụ nữ này đã gọi điện cho C, hỏi về thông tin cá nhân của C nhưng C không biết người phụ nữ này là ai. Trước đó thì khoảng đầu tháng 6/2023, C gặp anh Lý Văn N, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã K, huyện L, N có nói với C mấy hôm nữa sẽ có người gọi điện cho C. Sau đó thì người phụ nữ này gọi điện cho C nên C cho rằng anh N đã giới thiệu người phụ nữ này cho C. Anh N khai không có việc anh N giới thiệu người phụ nữ trên cho C. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lý Văn C và anh Lý Văn N đối chất, các bên giữ nguyên lời khai của mình nên Cơ quan không có căn cứ xử lý đối với anh N. Đối với người phụ nữ, do C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này; kết quả thu giữ điện tín không xác định được người sử dụng số thuê bao điện thoại 0585.438.xxx nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với người phụ nữ thuê C vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Đối với 01 chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển số, số khung: RLHJA 3923MY445556; số máy: JA39E2470740. Kết quả trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 22/6/2023 của Công an huyện L xác định chiếc xe trên đăng ký chủ sở hữu mang tên Lý Văn C, có biển số là 98E1-811.10; chiếc biển số xe 98E1-811.10 được Cơ quan điều tra giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà Lý Văn C.
Các vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT1” do phòng K2 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định, có dấu của phòng K2 Công an tỉnh B; 01 chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển số, số khung: RLHJA 3923MY445556; số máy: JA39E2470740; 01 biển số xe 98E1-811.10; 01 điện thoại di động iPhone 6 màu vàng, màn hình bị vỡ; số tiền 1.650.000đ, Cơ quan điều tra chuyển xử lý theo vụ án.
- * Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 123/CT-VKS-LNg ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lý Văn C về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 250-Bộ luật Hình sự.
- * Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của người này trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai này.
- * Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lý Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 250; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38-Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lý Văn C từ 09 (Chín) năm đến 10 (M) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2023). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47-Bộ luật Hình sự; Điều 106-Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “QT1” do phòng K2 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định, có dấu của phòng K2 Công an tỉnh B.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động iPhone 6 màu vàng, màn hình bị vỡ; 01 chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển số, số khung: RLHJA 3923MY445556; số máy: JA39E2470740 và 01 (Một) chiếc biển số xe 98E1-811.10.
- - Trả lại bị cáo Lý Văn C: Số tiền 1.650.000 đồng nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136-Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lý Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- * Bị cáo không tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát.
- * Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người cóa quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 05/6/2023, Lý Văn C đã có hành vi vận chuyển trái phép 7,205gam ma tuý Heroine và 3,880 gam ma tuý Methamphetamine, tổng số là 11,085 gam ma túy từ thôn T, xã H, huyện L cho một người phụ nữ không rõ tên tuổi địa chỉ, đến Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L cho một người đàn ông không quen biết thì bị tổ công tác của Công an huyện L phát hiện, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Hành vi nêu trên của bị cáo Lý Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 250-Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o, khoản 2, Điều 250-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất của vụ án: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, C đã lén lút vận chuyển trái phép chất ma túy với mục đích để trả công số tiền 500.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm xói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Lý Văn C là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5.2] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo Lý Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52-Bộ luật Hình sự.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51-Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.
[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm là công tác quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy; Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Lý Văn C ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 250-Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì đáng giá nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[8] Về những vấn đề khác: Đối với người phụ nữ thuê C giao ma tuý, C khai trước ngày 05/6/2023, người phụ nữ này đã gọi điện cho C, hỏi về thông tin cá nhân của C nhưng C không biết người phụ nữ này là ai. Trước đó thì khoảng đầu tháng 6/2023, C gặp anh Lý Văn N, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã K, huyện L, N có nói với C mấy hôm nữa sẽ có người gọi điện cho C. Sau đó thì người phụ nữ này gọi điện cho C nên C cho rằng anh N đã giới thiệu người phụ nữ này cho C. Anh N khai không có việc anh N giới thiệu người phụ nữ trên cho C. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lý Văn C và anh Lý Văn N đối chất, các bên giữ nguyên lời khai của mình nên Cơ quan không có căn cứ xử lý đối với anh N. Đối với người phụ nữ, do C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này; kết quả thu giữ điện tín không xác định được người sử dụng số thuê bao điện thoại 0585.438.xxx nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với người phụ nữ thuê C vận chuyển trái phép chất ma tuý là có căn cứ.
[9] Về vật chứng: Đối với ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư “QT1”, bên trong có 3,489 gam ma túy Methamphetamine và 6,589 gam ma túy Heroine cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 47- Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động iPhone 6 màu vàng, màn hình bị vỡ; 01 chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển số, số khung: RLHJA 3923MY445556; số máy: JA39E2470740 và 01 (Một) chiếc biển số xe 98E1-811.10 là những công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 47- Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền 1.650.000 đồng là tiền của cá nhân bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136-Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lý Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333-Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm o, khoản 2, Điều 250; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 47- Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2, điểm a, khoản 3, Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Văn C 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 05/6/2023). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lý Văn C.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì ký hiệu “QT1” do phòng K2 Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định, có dấu của phòng K2 Công an tỉnh B, bên trong có 3,489 gam ma túy Methamphetamine và 6,589 gam ma túy Heroine;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động iPhone 6 màu vàng, màn hình bị vỡ; 01 chiếc xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu xanh-đen-bạc không gắn biển số, số khung: RLHJA 3923MY445556; số máy: JA39E2470740 và 01 (Một) chiếc biển số xe 98E1-811.10.
- - Trả lại bị cáo Lý Văn C: Số tiền 1.650.000 đồng (Một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lý Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu |
Bản án số 132/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 132/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ ngày 05/6/2023, Lý Văn C đã có hành vi vận chuyển trái phép 7,205gam ma tuý Heroine và 3,880 gam ma tuý Methamphetamine, tổng số là 11,085 gam ma túy từ thôn T, xã H, huyện L cho một người phụ nữ không rõ tên tuổi địa chỉ, đến Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L cho một người đàn ông không quen biết thì bị tổ công tác của Công an huyện L phát hiện, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
