|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2023/HS- ST Ngày: 27/10/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Khoa và bà Đinh Thị Đức.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa:
Ông: Nguyễn Thanh Phong, Kiểm sát viên.
Ngày 27/10/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2023/TLST-HS ngày 04/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HS ngày 17/10/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Văn S, sinh ngày 01/01/1963; tên gọi khác: Không;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Làm ruộng;
Con ông Bùi Văn Đ, con bà Nguyễn Thị H (Đều đã chết).
Gia đình có 09 anh chị em bị cáo là con thứ hai. Có vợ là Triệu Thị H1, sinh năm 1965; trú tại xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có 02 người con, lớn sinh năm: 1986, nhỏ sinh năm: 1988.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án 330/HSST ngày 12/12/1998 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Bản án phúc thẩm số 532/HSST ngày 26/3/1999 của Toà án phúc thẩm tại Hà Nội, xử phạt Bùi Văn S 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đã chấp hành xong hình phạt chính năm 2010, án phí và hình phạt bổ sung năm 2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 21/3/1975. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Con ông Nguyễn Văn T, con bà Nguyễn Thị M, cùng trú tại: Xóm A, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Vợ: Giáp Thị H2, sinh năm: 1975. Trú tại: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có 02 người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm: 1996.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Triệu Thị H1, sinh năm 1965, trú tại xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Người chứng kiến:
Ông Lê Duy T1, sinh năm 1972, trú tại TDP B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 10 phút, ngày 19/6/2023, Tổ công tác thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 02 đối tượng nam giới đang điều khiển xe mô tô, BKS: 20F1-588.79, có biểu hiện phạm tội liên quan đến ma tuý. Tổ công tác tiếp cận, yêu cầu dừng xe để tiến hành kiểm tra hành chính, 02 đối tượng chấp hành và tự giác khai nhận họ tên lần lượt là Bùi Văn S và Nguyễn Văn D. Đồng thời, D tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 gói giấy màu trắng đang cầm ở trên tay phải, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Quá trình làm việc Sinh, D đều khai đây là chất ma túy loại Heroine mua với mục đích để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong vào phong bì ký hiệu A; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, BKS: 20F1-588.79 và chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo quy định.
Hồi 19 giờ 00 phút và 20 giờ 15 phút, ngày 19/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Bùi Văn S, Nguyễn Văn D. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ gì. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Văn S, Nguyễn Văn D (trong phong bì ký hiệu A) có tổng khối lượng là 0,147 gam, lấy toàn bộ chất bột màu trắng niêm phong vào phong bì ký hiệu A1, gửi giám định.
Tại Kết luận giám định 818/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 là chất ma tuý loại Heroine, có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015.
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa Bùi Văn S và Nguyễn Văn D khai nhận như sau: Sinh và D là các đối tượng nghiện chất ma tuý. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/6/2023, S điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, BKS: 20F1-588.79 (xe mô tô của vợ Sinh là chị Triệu Thị H1, sinh năm: 1965, trú tại: xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) đi đến khu vực Trạm y tế xã B, huyện Đ để uống thuốc Methamdone thì gặp Nguyễn Văn D. Do cùng là người nghiện ma tuý nên S và D rủ nhau góp tiền để đi mua ma tuý về sử dụng. Sinh điều khiển xe mô tô, BKS: 20F1-588.79 chở D đi đến khu vực bến xe khách Đ, thuộc thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì bảo D xuống xe đứng đợi. Lúc này, D lấy ra số tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho S để S đi mua ma tuý, S cầm tiền rồi một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực gần cổng chợ huyện Đ. Tại đây, S gặp 01 người phụ nữ không quen biết và hỏi mua được 200.000 đồng chất ma tuý (trong đó, có 100.000 đồng là tiền của D và 100.000 đồng là tiền của S) thì được 01 gói chất ma tuý, loại Heroine được gói trong giấy màu trắng. Mua được H3, S cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay về đón D, S đưa cho Dương cầm gói Heroine vừa mua được và điều khiển xe mô tô chở D đi tìm nơi để sử dụng ma tuý. Khi chưa kịp sử dụng, đi đến khu vực Toà án huyện Đ thuộc Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ thì bị Tổ công tác Công an thị trấn H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận tội của Bùi Văn S, Nguyễn Văn D phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ; kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì ký hiệu A1 (mẫu vật còn lại sau giám định); 01 phong bì ký hiệu A2 (là vỏ giấy gói và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu A); 01 xe mô tô, BKS 20F1-588.79. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ.
Tại Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSĐT ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Bùi Văn S, Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo Nguyễn Văn D); Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Văn S, từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Nguyễn Văn D từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo (còn lại sau giám định) được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 và A2; Hoàn trả bà Triệu Thị H1 01 xe mô tô BKS 20F1 - 558.79, đăng ký mang tên Triệu Thị H1 (vợ bị cáo S).
Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh luận, các bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D không có ý kiến tranh luận, bổ sung thêm gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, không oan. Các Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất, để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Đ. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai tại cơ quan tố tụng, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được tại hiện trường và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ ngày 19/6/2023, bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine có khối lượng 0,147 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành “Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hành vi phạm tội và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Cụ thể điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, H3, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
[4]. Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Các bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận biết về tác hại sâu xa của ma túy đến sức khỏe, kinh tế nhưng vẫn dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là mối hiểm hoạ cho cộng đồng, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự Việt Nam. Xét thấy, cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo với đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành động của mình, tích cực cải tạo bản thân và cũng là hình thức giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm về ma túy nói chung.
[5]. Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Văn D có bố mẹ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ và Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo D tuy được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định, nhưng bị cáo đã không lấy thành tích của bố mẹ làm tấm gương để học tập, phấn đấu vươn lên lại lao vào con đường phạm tội thật hổ thẹn với công lao của cha mẹ. Quá trình làm việc tại cơ quan tố tụng và tại phiên tòa các bị cáo không yêu cầu, đề nghị mời người bào chữa. Hai Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, Hội đồng xét xử cần xem xét và cân nhắc trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6]. Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Bùi Văn S, bị cáo Nguyễn Văn D, ở địa phương xác định là đối tượng nghiện ma túy, lao động tự do và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt này đối với các bị cáo.
[8]. Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy heroin còn lại sau giám định và vỏ bao gói ma túy đã thu giữ của bị cáo.
- Đối với 01 xe mô tô BKS 20F1- 558.79 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xác minh làm rõ, tại phiên tòa bị cáo và chị H1 cũng xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, đăng ký mang tên Triệu Thị H1 (vợ bị cáo S). Hiện nay, S là người nghiện ma túy thường xuyên đi uống thuốc Methadone nên các đồ dùng có giá trị trong gia đình đã bán không còn gì, chiếc xe máy nêu trên là tài sản duy nhất có giá trị còn lại trong gia đình để phục vụ cho việc đi lại và làm ăn nuôi sống gia đình. Ngày 19/6/2023, bị cáo S lấy xe của chị H1 đi uống thuốc Methadone, sau đó đi mua ma túy chị H1 không biết, nay chị H1 xin được nhận lại tài sản để làm phương tiện đi lại chăm lo cho cuộc sống chung của gia đình. Để thể hiện chính sách nhân đạo, nhân văn của N và tính nhân đạo của pháp luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét nên trả lại xe mô tô BKS 20F1- 558.79 cho chị H1 để tiếp tục quản lý, sử dụng.
[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật quy định và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
[10]. Các vấn đề khác: Đối tượng mà Bùi Văn S khai đã mua ma túy của người phụ nữ không quen biết tại khu vực cổng Chợ trung tâm huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Đ đã không xác định được lai lịch của người phụ nữ trên, không có căn cứ để điều tra mở rộng làm rõ trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ quy định tại: Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo Nguyễn Văn D); Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S, sinh năm 1963 và bị cáo Nguyễn Văn D, sinh năm 1975 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
- Bị cáo Bùi Văn S, 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2023.
- Bị cáo Nguyễn Văn D, 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2023.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo;
2. Quyết định tạm giam bị cáo Bùi Văn S, bị cáo Nguyễn Văn D thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Về xử lý vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,147 gam Heroine, sau trích mẫu giám định còn 0,138 gam đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 và phong bì niêm phong kí hiệu A2.
- Hoàn trả bà Triệu Thị H1 01 xe mô tô BKS 20F1 – 558.79, đăng ký mang tên Triệu Thị H1 (vợ bị cáo S).
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 06/10/2023.
4. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn S, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đỗ Cao Vương |
Bản án số 132/2023/HS- ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 132/2023/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
