|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-8-2024 V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/Ông Trần Thành Hiệp
2/Ông Phạm Thạch Út
-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Tố Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 8 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Phan Thị Diễm M, sinh năm: 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
ĐKHKTT: Tổ 19, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang
-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1986 (có mặt)
ĐKHKTT: Áp P, xã B, huyện C, An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 24/6/2024, nguyên đơn chị Phan Thị Diễm M trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T kết hôn năm 2012, hôn nhân do quen biết, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn. Sau thời gian chung sống thì đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên đánh đập hành hạ chị, tình cảm vợ chồng không còn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
-Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Văn K, sinh năm: 2012; Nguyễn Thị Diễm N, sinh năm: 2019. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
-Về hôn nhân: Anh thống nhất phần trình bày của chị M về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẩn theo chị M trình bày là đúng, do lúc nóng giận, có rượu nên anh có đánh chị và dùng từ xúc phạm chị, thời gian gần đây do vợ nói có nợ, lúc giận anh nói là không biết nợ nên vợ giận mà bỏ nhà đi cho đến nay. Nay nhận thấy cái sai, mong chị M tha thứ và anh còn thương vợ, anh muốn đoàn tụ hàn gắn. Nay trước yêu cầu xin ly hôn của chị M, anh không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ hàn gắn.
-Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Văn K, sinh năm: 2012; Nguyễn Thị Diễm N, sinh năm: 2019. Hiện con đang sống với chị M. Sau ly hôn anh đồng ý giao cháu N cho chị M nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Anh yêu cầu nuôi cháu K, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phan Thị Diễm M, cho ly hôn giữa chị M và anh T. Về con chung: Đề nghị giao cháu K cho anh T nuôi dưỡng, giao cháu N cho chị M nuôi dưỡng, anh T, chị M không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung vụ án:
[1.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Diễm M và anh Nguyễn Văn T kết hôn năm 2012, hôn nhân do quen biết, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo đơn chị M trình bày sau thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc thì đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên đánh đập hành hạ chị, tình cảm vợ chồng không còn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Còn anh T trình bày nguyên nhân mâu thuẩn là do lúc nóng giận, có rượu nên anh có đánh chị và dùng từ xúc phạm chị, thời gian gần đây do vợ nói có nợ, lúc giận anh nói là không biết nợ nên vợ giận mà bỏ nhà đi cho đến nay. Nay nhận thấy cái sai, mong chị M tha thứ và anh còn thương vợ, anh muốn đoàn tụ hàn gắn. Nay trước yêu cầu xin ly hôn của chị M, anh không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ hàn gắn. Xét thấy với thời gian chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân là do anh T xúc phạm và dùng lời lẽ không tốt với chị M, từ đó dẫn đến phát sinh mâu thuẩn vợ chồng, tuy mâu thuẩn xãy ra nhưng các bên không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện tại chị M xác định không còn tình cảm với anh T, chị giữ nguyên phần trình bày vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị M và anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2.2]Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Văn K, sinh năm: 2012; Nguyễn Thị Diễm N, sinh năm: 2019. Hiện con đang sống với chị M. Sau ly hôn chị M yêu cầu nuôi cháu N và cháu K và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Còn anh T đồng ý giao cháu N cho chị M nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con, anh yêu cầu nuôi cháu K. Xét thấy từ nhỏ đến nay cháu N đều sống chung với chị M, được chị và gia đình chăm sóc, cuộc sống hiện tại tương đối ổn định. Do đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu, nghĩ nên để chị M được tiếp tục nuôi cháu N là phù hợp. Còn cháu K tại phiên toà hôm nay, cháu có nguyện vọng sống với cha khi cha mẹ ly hôn, để tạo điều kiện cho anh T nuôi cháu K và cũng thoả nguyện vọng của cháu K. Do đó cho anh T nuôi cháu K là phù hợp. Chị M và anh T phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhau được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh, chị thực hiện quyền này.
[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị Phan Thị Diễm M trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của chị Phan Thị Diễm M được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị Diễm M. Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Diễm M và anh Nguyễn Văn T.
2.Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Văn K, sinh năm: 2012; Nguyễn Thị Diễm N, sinh năm: 2019. Sau ly hôn chị M được nuôi dưỡng cháu N, anh T nuôi dưỡng cháu K. Chị M và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị M và anh T phải tạo điều kiện thuận lợi cho cho nhau được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở khi anh, chị thực hiện quyền này.
3.Về tài sản và nợ chung: Chị Phan Thị Diễm M trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Diễm M phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004799 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
5.Về kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/8/2024). Chị Phan Thị Diễm M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phan Thị Diễm My. Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Diễm My và anh Nguyễn Văn Tèo.
