Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27/5/2024
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thục

Bà Nguyễn Thị Bích

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 27/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/01/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

HKTT: thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Nơi ở hiện tại: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh B tại Việt Nam: thôn Cấm Vải, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Anh Bằng hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn B kết hôn với nhau ngày 13/01/2017, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó anh B đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc còn chị ở nhà chăm sóc con cái. Thời gian đầu khi anh B đi nước ngoài vợ chồng cũng có liên lạc với nhau nhưng thường xuyên xảy ra cãi nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh B đi nước ngoài công khai có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên đến nay giữa chị và anh B đã mâu thuẫn trầm trọng, đã không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện nay chị đã đưa các con về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ tại Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Lê Văn B được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Gia H1, sinh ngày 21/9/2017 và cháu Lê Thùy D, sinh ngày 20/10/2023. Hiện nay cả hai cháu đều đang ở cùng chị, khi ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu H1 và cháu D cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện nay chị có nghề nghiệp, thu nhập ổn định khoảng 10-15 triệu /tháng nên có đủ khả năng để chăm sóc con chung.

- Về tài sản chung: chị không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về công nợ chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Lê Văn B hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh B đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh B.

* Tòa án đã làm việc với ông Lê Văn T, sinh năm 1971 là bố đẻ của anh Lê Văn B, ông có ý kiến trình bày: ông là bố đẻ của anh Lê Văn B. Anh B hiện nay đang không có mặt tại địa phương và đi làm việc tại Hàn Quốc. Anh B ở nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ cụ thể của anh B ở Hàn Quốc thì ông không được biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Về việc chị Nguyễn Thị H xin ly hôn tại Tòa án thì anh B có ý kiến không đồng ý ly hôn, anh B hiện đang ở nước ngoài nên không về Việt Nam làm việc được. Anh B ở nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên gọi điện về hỏi thăm chị H và các con. Theo ông được biết thì vợ chồng Huyền B1 vừa qua có xảy ra một số vấn đề mâu thuẫn nhỏ, chị H hiện nay đã đưa hai con chung về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bản thân ông mong muốn H và B1 hàn gắn với nhau để tiếp tục chăm sóc cho các con.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H xin vắng mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh B1 vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử:

Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Lê Văn B.

Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Gia H1 và cháu Lê Thùy D cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H đang sinh sống tại Việt Nam có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Lê Văn B. Bị đơn anh Lê Văn B có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 7175/QLXNC-P3 ngày 10/4/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Lê Văn B đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 18/02/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với ông Lê Văn T là bố đẻ của anh B xác định hiện anh B đang ở nước ngoài nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh B ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh B theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Lê Văn B kết hôn với nhau ngày 13/01/2017 tại UBND xã K, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh B. Xem xét đơn khởi kiện của chị H, HĐXX thấy: chị H xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân với nhau, không liên lạc với nhau. Anh B nước ngoài, vợ chồng sống xa cách, chị H xác định không còn tình cảm và đã đưa các con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh B.

[4]. Về con chung: chị H và anh B có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Gia H1, sinh ngày 21/9/2017 và cháu Lê Thùy D, sinh ngày 20/10/2023 hiện đang ở chị H. Bản thân anh B hiện nay đều đang ở nước ngoài nên không có thời gian và điều kiện để chăm sóc các con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu H1 và cháu D cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị H không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Lê Văn B.
  2. Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Gia H1, sinh ngày 21/9/2017 và cháu Lê Thùy D, sinh ngày 20/10/2023 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Bằng k trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000979 ngày 08/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  2. Về quyền kháng cáo:
  • - Anh Lê Văn B hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  • - Chị Nguyễn Thị H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huyền ly hôn Bằng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger