TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 132/2024/HS-ST Ngày: 26/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hồng Thanh
Bà Nguyễn Thị Kim Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 01/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024, đối với bị cáo:
Trần Thanh V, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1993 tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần N, sinh năm 1961 và bà Thạch Thị T, sinh năm 1961; có vợ tên Lê Thị T1, sinh năm 1993, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 10/6/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 13/QĐ-TA. Đến ngày 05/12/2016, chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2024, đến ngày 20/4/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1997. Địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
- Người chứng kiến: anh Trần Hoài S1, sinh năm 1991. Địa chỉ: tổ7, khu phố A, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; người chứng kiến vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh V là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2014 và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện năm 2016. Hình thức và loại ma túy sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine). Để có ma túy sử dụng, V thường mua ma túy của đối tượng tên “Ngựa” không rõ nhân thân lai lịch và mua của Phạm Thanh T2, sinh năm 1983, ngụ phường S, thành phố L để mang về sử dụng dần.
Vào khoảng 07 giờ ngày 11/4/2024, V điều khiển xe mô tô biển số 60B2-797.43 của anh Trần Thanh S, sinh năm 1987, ngụ phường P, thành phố L (anh ruột V) trên đường đi làm, đến đoạn ngã ba ông P thuộc phường B, thành phố Long Khánh V thấy “Ngựa” đang đậu xe trên lề đường, nên dừng xe hỏi mua 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 700.000 đồng, N1 đồng ý và lấy trong yên xe (chỗ bị rách) một đoạn ống nhựa hút nước màu hồng, hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá đưa cho V, V giấu đoạn ống chứa ma túy vào túi quần và mang về nhà của V tại khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cất giấu.
Khoảng 09 giờ cùng ngày, V lấy đoạn ống nhựa chứa ma túy đổ một ít vào nỏ thủy tinh sử dụng, số ma túy còn lại V để trong một hộp giấy màu trắng, đặt dưới nền nhà ngay chỗ V ngồi. Đến 09 giờ 30 cùng ngày, Công an phường P, thành phố L vào kiểm tra hành chính, phát hiện tại vị trí chỗ V ngồi có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một đoạn ống hút màu hồng chứa ma túy đá, Công an phường P đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 764/KL-KTHS,ngày 18/4/2024, Phòng K Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5239 gam, loại: Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSLK ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 02 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: tại phiên tòa xác định được: Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 11/4/2024, Công an phường P, thành phố L phát hiện bắt quả tang Trần Thanh V đang tàng trữ 0,5239 gam, loại Methamphetamine trong 01 đoạn ống hút màu hồng hàn kín hai đầu, để trong 01 hộp giấy ở khu vực phía sau nhà bếp nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo một môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói được niêm phong số 764/KL-KTHS ngày 18/4/2024, bên trong có chứa khối lượng ma túy còn lại sau giám định; 01 (Một) hộp giấy hình vuông màu trắng và 01 (Một) nỏ thủy tinh.
Đối với điện thoại di động Samsung A04, màu xanh (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, kèm sim số 0889.111.848 thu giữ của bị cáo. Bị cáo khai dùng điện thoại này để liên hệ với “Ngựa” qua số điện thoại 0942.175.xxx nhằm mua ma túy. Do hiện nay chưa xác minh được đối tượng tên “Ngựa”, không có căn cứ để xác định điện thoại này là công cụ, phương tiện phạm tội, nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với xe mô tô hiệu Winner màu đen, vàng là tài sản của anh Trần Thanh S, anh S không biết V dùng đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại anh Trần Thanh S là phù hợp.
[6] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 764/KL-KTHS ngày 18/4/2024; 01 (Một) hộp giấy hình vuông màu trắng và 01 (Một) nỏ thủy tinh.
Trả lại cho bị cáo Trần Thanh V 01 (Một) điện thoại di động Samsung A04, màu xanh (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, kèm sim số 0889.111.848.
(Toàn bộ vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/7/2024).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Vân Khánh |
Bản án số 132/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 132/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Vinh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh Vinh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 11/4/2024. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 764/KL-KTHS ngày 18/4/2024; 01 (Một) hộp giấy hình vuông màu trắng và 01 (Một) nỏ thủy tinh. Trả lại cho bị cáo Trần Thanh Vinh 01 (Một) điện thoại di động Samsung A04, màu xanh (đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, kèm sim số 0889.111.848.
