|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 132/2024/HNGĐ-ST Ngày 26 - 4 - 2024 V/v ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Xuân Hỏa và ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/ 2024/ TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/ 2024/ QĐXX - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1995
HKTT: Đội 8, thôn Á, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992
HKTT: Đội 8, thôn Á, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án tại: Đ, P, Trại giam S, T, Nghệ An.
Chị M, anh C đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Phạm Thị M trình bày:
- Về hôn nhân: Chị M và anh Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn vào ngày 22/4/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh C, ở Đ, thôn Á, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong thời gian ly thân thì anh C có vi phạm pháp luật và bị Tòa án xử 10 năm tù, hiện nay anh C đang chấp hành án tại Đội 38, Phân trại số B, Trại giam S, T, Nghệ An. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị M đề nghị được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/10/2013. Ly hôn chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L, không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ngoài ra, do điều kiện làm ăn ở xa, hoàn cảnh kinh tế khó khăn không thuận tiện trong việc đi lại, chị M xin vắng mặt tại phiên tòa.
Về phía bị đơn, anh Nguyễn Văn C trình bầy:
- Về hôn nhân: Anh C và chị Phạm Thị M tự nguyện kết hôn từ năm 2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ngay tại gia đình anh C, ở Đ, thôn Á, xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay không còn quan hệ gì. Trong thời gian ly thân, năm 2020 anh C vi phạm pháp luật và bị kết án 10 năm tù và đang chấp hành án tại Đội 38, Phân trại số B, Trại giam S, T, Nghệ An. Nay chị M xin ly hôn với anh, anh C đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh C xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/10/2013. Ly hôn anh C đề nghị Tòa án giao cháu L cho mẹ anh C là bà Dương Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị M, cho chị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Giao cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/10/2013 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh C đến khi chị M có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng do chị M, anh C không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù phía nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng chị M, anh C đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C.
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn ngày 22/4/2013, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện M, Thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống với nhau ngay tại gia đình anh C. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh C vi phạm pháp luật và đang phải chấp án án tại Đội 38, Phân trại số B, Trại giam S, T, Nghệ An. Chị M xin ly hôn với anh C, anh C đồng ý ly hôn. Xác minh tại chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn giữa các bên là không thể hàn gắn và trên thực tế quan hệ hôn nhân đã thực sự chấm dứt nhiều năm nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh C đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị M và xử cho chị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/10/2013. Quá trình giải quyết vụ án, chị M xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L, cháu L cũng có nguyện vọng được ở với chị M, hơn nữa do hiện nay anh C đang phải chấp hành án tại Đội 38, Phân trại số B, Trại giam S, T, Nghệ An, nên HĐXX nhất trí giao cháu Nguyễn Ngọc L cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị M chưa yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh C, đến khi chị M có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị M và anh Nguyễn Văn C đều không yêu cầu Tòa giải quyết, nên Tòa không xét.
Về công nợ chung: Không có, nên Tòa không xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Giao chị Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 02/10/2013. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh C đến khi chị M có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0007780 ngày 27/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Chị M đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 132/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 132/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn M-C
